Thứ tư, ngày 05 tháng sáu năm 2013

CHUYỂN BIẾN

Công Nông
-         Đang họp Quốc Hội đấy, bác có theo dõi không?
-         Cũng thỉnh thoảng. Thú thật là chưa thấy “nóng”. Các vị dân biểu kỳ này xem ra chưa “máu” lắm. Chú có nhớ bác Thuyết không?
-         Trên cả nhớ! Bác giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nói chuyện Vinashin mọi năm. “Hoan hô đại biểu Nguyễn Minh/ Thuyết trình bảy phút rung rinh hội trường”.
-         Đại biểu Quốc Hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là người được cử tri bầu, phải nói tiếng nói của nhân dân. Công việc chủ yếu của Quốc Hội là họp, công việc chủ yếu của dân biểu là nói. Đại biểu của dân mà không nói coi như không làm việc, chú ạ.
-         Bác nói y như sách...Tây. Em nghe nói tiếng Tây nó gọi nghị sĩ là “parlementair”, bắt nguồn từ “parler” có nghĩa là nói. Đã là ông bà nghị thì phải nói. Nói tức là làm việc.
-         Tây, ta chi thì cũng phải rứa.
-         Ấy thế mà bác Nguyễn Minh Thuyết vừa có bài trên báo, nói mỗi khóa Quốc Hội có tới hơn một trăm đại biểu không bao giờ phát biểu.
-         Thế kia à? Mà có khi thế thật cũng nên. Chú mày thấy không, như đoàn đại biểu tỉnh ta, mấy khóa trước còn có tướng Thước tả xung hữu đột, phiên nào bác đăng đàn là sôi sùng sục. Hồi này xem ra im ắng, thỉnh thoảng mới thấy một vài vị đì đùng đôi phát ở thảo luận tổ.
-         Người ta nói, ở ta nói mạnh chỉ là mấy bác về hưu, mấy bác đại biểu chuyên trách thôi.  Lãnh đạo các cấp tham gia Quốc Hội, Hội đồng Nhân dân rất nhiều, nhưng đây chính là thành phần ít phát biểu nhất.
-         Có lẽ họ ngại đụng chạm, ảnh hưởng đến quyền lợi địa phương, đơn vị mình. Cũng không loại trừ có nhiều vị nghĩ đến dự họp Quốc Hội hay Hội đồng nhân dân chỉ là để...chỉ đạo thôi.
-         Các vị nói mạnh thì dân nghe cũng sướng. Thế nhưng, cũng có người nói: “Ôi dào, nói thì giải quyết được vấn đề gì, “khoai sắp vô ấm cả rồi”. Trong bài viết của mình bác Thuyết cũng trích câu thơ vui của ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội: “Ý kiến đại biểu thì rất hay/ Nhưng nếu tiếp thu thì rất gay/ Mong đại biểu vui lòng chấp nhận/ Và tiếp tục… phát biểu hăng say”. 
-         Thơ vui mà chua chát quá! Đúng là như thế thì cũng nản thật. Bây giờ không chỉ trên diễn đàn đâu, ở các sinh hoạt, hội họp khác nhiều người cũng rất ngại phát biểu, nhất là phê bình, đấu tranh. Chắc cũng vì nói mạnh mà không có chuyển biến gì nên nản.
-         Đành là thế, nhưng em lại nghe một số người nói, cán bộ ta ngại đấu tranh mạnh chính là vì sợ... chuyển biến.
-         Vớ vẩn! Đấu tranh mà chuyển biến là tốt chứ, sao lại ngại?
-         Không, họ nói nếu đấu tranh mạnh thì…”chuyển”, còn mạnh hơn nữa thì…”biến”. Họ ngại “chuyển biến” là vì rứa.
-         Bậy! Nói tầm tổ!
-         Em cũng chỉ mong nói rứa là tầm tổ!


Thứ tư, ngày 29 tháng năm năm 2013

CON LẬT ĐẬT VÀ CÂY CỘT ĐIỆN

Phạm Xuân Cần
Sáng nay lang thang vào fb của một vài người, thấy nói chuyện con gái Bắc lấy chồng Xứ Nghệ, lại nhớ câu chuyện hai mươi lăm năm về trước. 
Áp tết năm 1988 trên chuyến bày từ Matxcova về Hà Nội, mình ngồi bên cạnh một cô gái. Chuyến bay dài dằng dặc trên hai mươi giờ đã đủ cho mình và cô bạn đồng hành trò chuyện được nhiều điều. Đó là một cô gái đẹp, người Hà Nội, làm phiên dịch cho một đội công nhân xuất khẩu lao động của ta ở Liên Xô, về nghỉ phép. Nhìn vẻ đẹp sắc sảo, mạnh mẽ và không ít đa đoan của cô gái, mình đoán cô ta chắc không suôn sẻ lắm trong chuyện hôn nhân. Khi nghe mình đưa ra nhận xét đó, cô gái thừa nhận ngay: “Chúng em đã chia tay rồi anh ạ”. Và, khi biết mình là người Nghệ, cô ta đã không ngần ngại trải lòng mình. Hồi ấy cô là sinh viên một trường đại học kiến trúc ở Nga, còn anh là một nghiên cứu sinh của chính trường đó. Hai người đến với nhau như là tất yếu phải như vậy. Cô xinh đẹp và thông minh, còn anh gần như là người đàn ông hoàn hảo: đẹp trai, thông minh, lịch lãm và tài hoa. Trong lúc cô hết sức hãnh diện, tự hào về người yêu, thì lạ thay đám bạn bè người Hà Nội của cô ta lại hết sức phản đối. Họ thừa nhận tất cả mọi ưu điểm vượt trội của anh, nhưng không thể nào chấp nhận một nhược điểm duy nhất, không thể nào khắc phục được ở anh. Nhược điểm duy nhất đó là: Anh là người Nghệ! Luận điểm mà họ đưa ra là: Con trai miền Bắc giống như con lật đật của Nga, nó cứ lắc lư vậy thôi, chứ không bao giờ ngã, còn con trai Nghệ rất cực đoan. Khi yêu thì hết lòng, nhưng khi đã không còn tình cảm nữa thì đổ ngang như một cây cột điện, không thể cứu vãn. Bỏ qua tất cả mọi can ngăn và đàm tiếu, cô đã kết hôn với anh chàng xứ Nghệ, với một niềm tin sắt đá rằng đó là cây cột điện không bao giờ đổ ngã. Đám cưới được tổ chức sau ngày hai người về nước và trở thành giảng viên của trường đại học. Biết bao nhiêu người đã khát khao và ghen tị với cặp đôi trai tài gái sắc này. Thế nhưng, hạnh phúc tưởng bền vững mà sao thật mong manh. Cô không nói, và mình cũng không hỏi lý do, nhưng hôn nhân của họ đã đổ vỡ không thể nào cứu vãn được. Gửi con cho ông bà ngoại, cô xin trở lại Nga làm phiên dịch. Và, cũng là để xa anh. Câu chuyện buồn của cô như làm cho chuyến bay càng dài ra...
Từ đó đến nay, cứ mỗi lần nghĩ đến tính cách Nghệ, mình lại nhớ đến cô gái, nhớ đến sự so sánh con lật đật Nga và cây cột điện.
Mà quả thật vẫn chưa biết là đúng hay sai?

Thứ tư, ngày 22 tháng năm năm 2013

Về chính sách thu hút nhân tài ở Nghệ An: CÓ CẦN THU HÚT?

Phạm Xuân Cần
Hẳn nhiều người còn nhớ câu chuyện cách đây năm năm sinh viên Phan Thị Cảnh, đảng viên, tốt nghiệp loại giỏi Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội về Nghệ An theo chính sách thu hút nhân tài, nhưng bị đẩy đi đẩy lại, không cơ quan nào nhận. Sau khi được nhà báo Vũ Toàn đưa lên báo với nhan đề “Hắt hủi nhân tài”, câu chuyện đã tạo nên một dư luận rộng rãi trong và ngoài tỉnh. Thế nhưng, dù sao số phận em Cảnh vẫn còn may mắn chán, vì tuy bị chính quyền “hắt hủi”, nhưng lại được công luận nâng niu, nhờ vậy sau đó em đã tìm được công việc rất tốt ở một doanh nghiệp lớn.
Theo tư duy thông thường chính sách thu hút chỉ ban hành khi khan hiếm nhân lực có chất lượng. Nếu không có chính sách sẽ không có đủ số lượng và chất lượng nhân lực. Chính sách thu hút sẽ tạo ra sức hút để “hút” những người có chất lượng cao không có ý định, hoặc đang lưỡng lự có về “đầu quân” cho Nghệ An, hoặc có đến một địa chỉ cụ thể nào đó ở Nghệ An hay không? Điều đó cũng có nghĩa là khi cầu (về phía nhà nước) lớn hơn cung (nhân lực chất lượng cao) thì khi đó cần thu hút.
Thực tế ở Nghệ An có phải vậy không?
Theo chúng tôi được biết hàng năm Nghệ An có trên dưới 10 nghìn học sinh đậu đại học, tương tự cũng có từng đó (hoặc ít hơn không đáng kể) sinh viên tốt nghiệp ra trường. Thực tế các trường đại học những năm gần đây đều có tỷ lệ đậu tốt nghiệp loại khá trở lên trên 50%. Như vậy, chí ít mỗi năm Nghệ An có khoảng 5000 sinh viên tốt nghiệp loại khá trở lên, đủ tiêu chuẩn thu hút. Bên cạnh đó hàng năm còn có hàng trăm thạc sỹ được cấp bằng. Hầu hết số này đều có nhu cầu về quê công tác, khi không thể người ta mới tính đến các lựa chọn khác. Thế nhưng, thực tế chỉ tiêu thu hút của tỉnh năm cao nhất cũng chỉ hơn 400 người. Rõ ràng, chỉ tiêu thu hút chỉ đáp ứng được chưa đầy 10% những người có nhu cầu. Như vậy, nếu có nhu cầu, không cần chính sách, chúng ta vẫn thừa sức “thu hút” được một số lượng “nhân lực chất lượng cao” nhiều hơn mười lần như thế!
Nếu đủ tiêu chuẩn thu hút nhưng không được thu hút được coi là bị “hắt hủi nhân tài”, thì ở Nghệ An mỗi năm có không dưới nửa vạn “nhân tài bị hắt hủi”! Trong lúc hàng vạn sinh viên hàng năm ra trường, quá nửa trong số đó là khá và giỏi, cùng với hàng trăm thạc sỹ khác đang vất vả tìm kiếm việc làm; trong khi người ta sẵn sàng chi ra cả trăm triệu đồng chỉ để chạy một chân công chức xã mà có khi không được, thì câu chuyện được thu hút vào biên  chế, lại còn được thưởng tiền xem ra thật phi lý đến cùng cực! Cùng tiêu chuẩn như nhau trong lúc một người được thu hút vào biên chế, mười người khác không được đã là bất công. Đằng này, hơn thế người được thu hút còn được thưởng hàng chục triệu đồng nữa thì sự bất công lại còn được nhân lên gấp bội.
Vậy nên như thế nào? Mọi việc có lẽ phải bắt đầu từ cách tiếp cận. Chính sách hiện hành tiếp cận vấn đề từ việc đặt ra một chuẩn chung cho “nhân lực chất lượng cao”, bao gồm từ sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi, đến thạc sỹ, tiến sỹ, phó giáo sư và giáo sư...”. Nghĩa là xuất phát từ phía “cung”. Nhưng tại sao lại chỉ có chưa đầy 10% trong số đó có cơ hội được hưởng chính sách? Vấn đề ai cũng thấy: vì nhà nước không có nhu cầu! Như vậy câu chuyện thu hút và “khái niệm nhân tài”, hay “lao động chất lượng cao” cần phải được tiếp cận từ chính phía cầu, tức là nhu cầu thực sự của nhà nước. Câu hỏi luôn phải được đặt ra là: nếu không có chính sách thu hút thì chúng ta có thể tuyển được người có chất lượng vào vị trí này, vị trí kia hay không? Điều đó cũng có nghĩa là: những địa chỉ được cho là có cơ hội làm việc tốt, thu nhập cao, không cần có chính sách người ta vẫn vào thì không cần thực hiện chính sách này. Ngược lại những địa chỉ có nhiều khó khăn, lợi thế so sánh thấp, tuyển người bình thường cũng khó, chứ chưa nói đến chất lượng cao, thì càng phải vận dụng chính sách thu hút với những ưu tiên đặc biệt.
Vì vậy, nên chăng, chính sách thu hút chỉ nên đặt ra trong hai trường hợp: thứ nhất với những nhân tài thực sự có đẳng cấp vượt trội và thật sự cần cho tỉnh; thứ hai, với những địa chỉ thực sự khó khăn không tuyển dụng được người đủ tiêu chuẩn (như một số xã vùng sâu vùng xa, một số đơn vị đặc thù của ngành y tế…).
Còn với các trường hợp khác, cái xã hội ta đang cần, rất cần không phải là chính sách thu hút, với những khoản tiền đang ngày càng tăng lên, mà là một môi trường thi cử, tuyển dụng thật minh bạch, thật công bằng, để câu chuyện “công chức một trăm triệu” sớm trở thành cổ tích.

Được biết hiện nay các cơ quan chức năng đang nghiên cứu để chính quyền tỉnh ban hành một chính sách thu hút nhân tài mới. Thiết nghĩ điều đó cũng là cần thiết. Nhưng, nếu không có một cách tiếp cận mới, thực tế hơn, khoa học hơn, mà vẫn chỉ loay hoay với việc thu hẹp hay mở rộng diện thu hút, nâng lên hay hạ xuống số tiền thưởng hỗ trợ, thì cái nghịch lý “thừa cung mà vẫn hút cầu” vẫn còn đó. Và, như đã nói chính sách đó vô hình chung lại tạo nên sự bất công mới. 

Chuyện tào lao: RẠP CHIẾU PHIM SỐ 3


Fa - Xu - Ca
Những năm 1980 ở Vinh còn có ba rạp chiếu phim. Một bác nông dân từ Nam Thanh (Nam Đàn) xuống chợ Vinh, đón một anh xe đạp lai: “Chú cho bác đến rạp chiếu bóng số 3”. Anh xe lai ngạc nhiên: “Rạp số 3 là rạp mô bác?”. ‘Chú cứ đùa. Bác ở Nam Đàn mà đưng biết nựa là chú”. Có lẽ sợ bị chê là quê, hơn nữa cũng không muốn bỏ lỡ một khách hàng nên anh chàng xe lai mời bác nông dân lên xe, cắm cổ đạp. Anh đưa bác nông dân đến rạp Cửa Đông, vì nghĩ rằng rạp này nhỏ nhất, nên chắc là rạp số 3. Thế nhưng, sau khi khi ì ạch đạp hơn ba cây số, đưa bác nông dân đến đây, thì bác lắc đầu: “Đây là rạp Cửa Đông, răng chú lại lừa tui là rạp số ba?”. Nếu đây không phải rạp số 3 thì chắc rạp Bến Thủy là rạp số 3. Nghĩ thế anh chàng lại cắm cổ đạp gần bốn cây số nữa xuống Bến Thủy. Bác nông dân lại lắc đầu: “Đây là rạp Bến Thủy. Răng chú lại đưa tui đến đây?”. Trời ạ! Thế thì chỉ còn một rạp nữa thôi. Anh ta lại ngược đường gần 6 cây số nữa về đường Quang Trung. Vừa trông thấy rạp chiếu phim 12-9, bác nông dân đã reo lên: “Tui trụt đây. Rạp chiếu bóng số 3 đây rồi!”. Chàng xe lai ngơ ngác: “Đây là rạp mười hai chín, răng bác lại nói là rạp số 3”. “Chú lại trêu bác rồi. 12 trừ 9 là 3 chơ chi nựa. Tui học cọ lớp 3 đưng biết, các chú ở thành phố học cao răng không?”. Mặc anh chàng xe lai giải thích đó là cái gạch nối, bác nông dân vẫn khăng khăng: “Tui nỏ biết gạch nối, gạch niếc chi hết, cứ gạch ngang ra rứa là tui kêu dấu trừ”. “Nói như bác thì chả lẽ lại đọc: Độc lập “trừ” tự do, “trừ” hạnh phúc à?”. “Chơ răng!”

Thứ ba, ngày 14 tháng năm năm 2013

THIÊN ĐỊCH

Fa - Xu - Ca
Cây mai nhà mình khá đẹp. Từ sau tết, hoa bắt đầu tàn cũng là lúc chồi đâm, lộc nẩy, xanh non mơn mởn. Ấy vậy mà chỉ sau mấy hôm mình đi công tác, trở về đã thấy nó xơ xác, tàn tạ, chỉ còn lại mấy cái lá già từ mùa đông năm trước. Toàn bộ lá, lộc non đã bị lũ sâu chén sạch. Chiếc lá nào may mắn sót lại cũng chỉ xơ xác, quăn queo, trông rất thảm. Mình xem kỹ thì thấy thủ phạm là lũ sâu keo, con nhỏ thì như cái kim, con to cũng chỉ to hơn cái tăm một tý. Thế mà chỉ mấy hôm chúng đã biến nàng mai kiêu hãnh của mình trở nên thân tàn ma dại như thế này.
Với một lòng căm thù cao độ, mình xắn tay áo bắt đầu sự nghiệp diệt sâu. Lúc này vì lá không còn nhiều, nên phát hiện và diệt chúng không khó lắm. Liên tục mấy hôm bắt, sâu chắc cũng không còn bao nhiêu. Sau mấy tuần được bồi dưỡng bằng phân bón lá, chị mai nhà ta lại bắt đầu đâm một lứa lộc mới, bên cạnh đó còn xuất hiện mấy chùm nụ mới, hứa hẹn một mùa “nhị độ mai”. Nhưng chưa kịp vui thì lại đã thấy mấy cái lộc non quăn lại. Trời ạ! Chúng lại xuất hiện rồi. Nâng cao cảnh giác lần này mình tổ chức công cuộc bắt sâu sớm hơn. Mấy người nói cứ mua mấy vỉ thuốc trừ sâu về phun lên là xong, nhưng mình không làm thế được, vì bọn trẻ con hàng xóm hay chơi ở đây, mấy hôm nữa hai đứa cháu ngoại lại về, phun thuốc thì độc lắm. Cho nên cứ phải bắt thôi. Vạch lá tìm sâu mãi cũng chán, mình có sáng kiến lắc mạnh cành mai. Cũng có đôi con rơi xuống, nhưng mấy chùm nụ hoa thì rụng như sung. Đặc biệt hôm sau lắc nữa thì không có con nào rụng. Hay là chúng nó đã kịp biến chủng mới để thích nghi với chiến thuật “rung chà cá nhảy” của mình cũng nên. Thế là lại kiên trì vạch lá…Một mình bắt không xuể, mình vận động quần chúng tham gia. Khốn nỗi thằng cu thì đi suốt ngày, nó chỉ về khi đêm đã khuya, thì sâu sia gì nữa. Hơn nữa, xem ra sự yên ổn của cây mai hình như không thuộc phạm vi quan tâm của anh chàng này. Vợ mình là người vô cùng gan góc, trên đời không biết sợ gì (kể cả chồng và nhất là chồng), thế nhưng cứ nhìn thấy con sâu là kêu thét lên. Thành ra, mình cũng chỉ còn nhờ đựơc mấy đứa cháu khi chúng nó lên chơi. Hôm chủ nhật vừa rồi chợt nhớ ra có thể diệt sâu bằng loại chế phẩm chế từ gừng, tỏi và ớt, mình vội lấy gừng, tỏi và ớt rửa sạch, giã nhỏ rồi cho một ít nước vào. Sản phẩm chế biến xong có mùi thơm và cay nồng, chỉ cần có rổ ốc nữa là xì xụp được. Mình cho vào bình tưới xịt lên cây mai, sau đó đợi và kiểm tra. Lý thuyết viết như thế, nhưng không hiểu vì thuốc của mình nồng độ thấp quá hay sao mà bọn sâu vẫn sống nhăn răng. Thậm chí sáng nay kiểm tra thì thấy con nào con nấy có vẻ mập mạp và…nồng nàn hơn.
Biết mần răng đây?
Mình đem chuyện này hỏi một chuyên gia về bảo vệ thực vật. Chuyên gia cho biết trong trường hợp này thì chỉ còn cách dùng thiên địch. Tức là dùng một loại sinh vật khác có tập tính khắc với loài sâu này để tiêu diệt chúng. Với loài sâu keo này thì không có gì hơn là chim sâu. Chỉ cần vài con chim sâu thôi, cả khu vườn nhà mình sẽ không còn một con sâu nào nữa cả. Trời đất! Đơn giản thế mà không nghĩ ra. Đúng, phải dùng thiên địch! Thiên địch muôn năm!
Nhưng, tìm đâu ra chim sâu bây giờ? Trong xóm người lớn thì súng hơi, trẻ con thì súng cao su. Hễ thấy chim sâu, chim sẻ là thi tài thiện xạ. Không dính đạn thì chúng nó cũng rủ nhau đi tị nạn đâu rồi.
Và, thế là từ nay ta như chàng thi sỹ Hoàng Cầm thời trẻ, mải miết và vô vọng trong cuộc tìm kiếm lá diêu bông.
“Diêu bông hời”, thiên địch hỡi…Mi ở đâu?

Thứ tư, ngày 08 tháng năm năm 2013

Chuyện tào lao: VỢ MÌNH MÁC XÍT HƠN MÌNH


Fa - Xu - Ca
Sáng nay mình dậy sớm. Tập thể dục xong, nhìn thấy sân vườn không được sạch, nổi cơn siêng bất ngờ, mình vào nhà lấy chổi ra quét. Chẳng mấy chốc cả sân vườn lát gạch rộng mênh mông được mình quét sạch như lau như li. Mấy quả dừa khô, tàu dừa rụng cũng được gom lại. Lại còn quét cả dưới chuồng chó, rồi lá khế rụng trên bể cảnh cũng được dùng vợt vớt lên. Nước trong veo, nhìn mấy con cá bơi lội tung tăng thật thích. Hương ngọc lan thơm dịu, dưới cành ngọc lan giò phong lan cũng đã nở hoa. Trên mái chòi văn hoa ti gôn đang chờ khoe sắc. Ngay bên thềm hai chậu mười giờ cũng chỉ đợi nắng lên là rực rỡ. Mình thấy trong lòng khoan khoái, dễ chịu, chỉ đợi vợ dậy cho lời khen nữa là ta sẽ sở hữu một buổi sáng tuyệt vời.
Và, nàng đã dậy kia rồi, nàng đứng trên thềm đang nhìn ra. Mình hớn hở chạy đến:
-         Trông có sạch không?
Nàng đưa mắt nhìn quanh một vòng, ra vẻ hài lòng lắm. Mà không hài lòng răng được. Quét dọn cả sân vườn rộng mênh mông thế này có khác nào chiến công của chàng Heracles trong thần thoại Hy Lạp, đã thay đổi dòng chảy hai con sông để rửa sạch cái chuồng ngựa đã ba trăm năm không ai dọn?  Mình yên chí chờ ở nàng một tiếng khen...
Bỗng nhiên nàng nhìn vào cái chổi trên tay mình, đổi nét mặt và hỏi:
-         Khi nại (lúc nãy) anh quét sân bằng cấy chủi (cái chổi) mô?
-         Thì cấy ni chơ cấy mô nựa!
-         Trời ạ! Đây là cấy chủi quét nhà, răng anh lại đưa ra quét sân?
Mình vội vàng viện dẫn cả Đặng Tiểu Bình ra để cãi:
-         Ôi dào, mèo trắng, mèo đen chi chả được, miễn là bắt được chuột.
-         Không trắng đen chi hết. Chủi quét nhà là quét nhà, chủi quét sân là quét sân.
Lập luận của nàng khiến mình nhớ lại một luận điểm kinh điển của Mác trong Tư Bản: Quan trọng không phải là người ta làm ra cái gì, mà quan trọng là người ta làm bằng cách nào. Bắt được chuột mà dùng sai mèo cũng không được. Quét sạch sân mà dùng sai chổi còn nguy hiểm hơn. Sai lầm của mình là sai lầm ở tầng...phương pháp luận rồi! Nguy hiếm quá!
Thế mới biết vợ mình tuy không phải đảng viên nhưng Mác xít hơn mình nhiều!

Thứ ba, ngày 07 tháng năm năm 2013