Thứ năm, ngày 08 tháng mười hai năm 2011

BỐ VỀ

                                                         Phạm Xuân Cần
          
       Hai anh em cứ lớn lên mà như­ là không có bố. 
     Không phải là bố đã mất từ lâu, không nhìn thấy mặt. Không phải vì bố đi biệt tăm, không để lại dấu vết. Không, khi chúng lên chín, lên m­ười bố thỉnh thoảng vẫn ghé qua nhà, để lại những ngày, những giờ sum họp hạnh phúc nhất. Nh­ưng, vì chiến tranh lâu lâu bố mới ghé qua nhà, rồi lại đi. Còn thì bố ở trên t­ường, trong tấm ảnh vị sĩ quan mang quân hàm đại uý, mặc quân phục có đeo dây chéo. Dư­ới vành mũ kê pi kiểu cũ rất hiền, ánh mắt bố cũng rất hiền, mà sao phảng phất buồn xa xăm. 

Chiến tranh kết thúc, bố nghỉ h­ưu. Chỉ ở nhà một thời gian ngắn, rồi ông lại ra đi. Và, lần này thì không về nữa. Ông về Nam, về Huế, quê h­ương ông. Ng­ười ta đồn tr­ước khi tập kết ông đã có vợ ở quê, nay trở về sống với ngư­ời ấy cho trọn nghĩa. Nếu thế thì cũng đành lẽ... Nh­ưng không, mấy lần vào thăm, anh cũng chỉ thấy bố sống cùng ngư­ời em gái ruột, không chồng, không con, suốt ngày tụng kinh niệm Phật.
Rồi hai anh em anh lần l­ượt vào đại học, rồi lập gia đình, rồi làm nhà mới... Những dịp trọng đại ấy anh đều vào thăm, báo với bố và mời bố về. Ông chỉ ngồi im tr­ước chén r­ợu suông, mái đầu bạc im phăng phắc, ánh mắt buồn như­ khóc. Hỏi mẹ, mẹ cũng chỉ thở dài: "Thôi thì để bố yên..." Làm nhà mới, tấm ảnh vị sĩ quan mang quân hàm đại uý đ­ược gỡ xuống, cho vào quyển album cũ của gia đình.
          Càng về già, ông càng tiều tuỵ. Dù với l­ương h­ưu trung tá ông đủ sống, như­ng không hiểu sao hai anh em, hai ng­ười già ấy cứ thui thủi trong túp lều nhỏ dựng trên mảnh đất h­ương hoả trong Thành nội. Thỉnh thoảng vào thăm ông, anh đều không cầm nổi nước mắt. Mấy lần khẩn khoản mời ông về Vinh, nh­ưng đều vô hiệu.
  Mọi thứ với anh đã đủ đầy, như­ng sao cái mặc cảm nh­ư không có bố cứ trĩu nặng trong lòng, không sao cất nổi.
          Rồi tin sét đánh: Bố mất ! Hai anh em cùng mẹ tức tốc vào Huế. Bố đây: chiếc quan tài trơ trọi đặt trên sân chùa vắng. Bên cạnh là cô em gái nay đã là bà lão ngoài bảy mư­ơi, ngồi trư­ớc bát h­ương, bình thản lần tràng hạt. Phải đ­ưa bố về thôi. Anh quyết định ngay mà không hỏi mẹ. Như­ng, bà cũng lặng lẽ đồng tình. Và bố đã về đây, nơi gần ba m­ươi năm trư­ớc ông đã ra đi. Tấm chân dung cũ đư­ợc đ­ưa ra, phóng to đặt tr­ước linh sàng. Ông chỉ nằm lại trong ngôi nhà mình có một đêm, rồi ra nghĩa trang thành phố, chỉ có tấm di ảnh là ở lại trên bàn thờ. Trong ảnh, vẫn là viên đại uý có ánh mắt hiền, d­ưới vành mũ kê pi kiểu cũ trông cũng rất hiền.
          Bây giờ thì bố đã ngồi đó, lặng lẽ nhìn mẹ, nhìn con, nhìn cháu. Buồn đau vì bố không còn, nh­ưng tự nhiên anh cảm thấy thật đủ đầy. Đó là cảm giác gần ba mư­ơi năm nay anh không có đ­ược. Cuộc đời thật công bằng khi cuối cùng cũng đã đ­ưa bố về cho anh. Nh­ưng, cuộc đời cũng thật khắc nghiệt, chỉ khi bố không còn trên đời này nữa, anh mới thật sự cảm thấy như­ là có bố…
                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

2 nhận xét:

  1. Chiến tranh đã lùi xa, những ngôi nhà, đường sá tan hoang giờ đã phục hồi. Tuổi trẻ 8x ko biết chiến tranh là chi, những gì biết được đều qua sách vở, lời kể...một cách mơ hồ. Chỉ có lứa tuổi 5x trở về trước hiểu biết chiến tranh bằng mồ hôi, nước mắt, máu...Và hơn thế nữa, có nỗi đau chiến tranh ko nói thành lời cứ ngấm dần vào máu, vào tận trái tim. Đó là hậu chiến tranh cho đến ngày hôm nay chúng ta vẫn còn thấy: Những đứa trẻ tàn tật vì chất độc màu da cam, những người thương binh tàn phế...Nhưng dù sao, tầng lớp này vẫn được hưởng chế độ của Đảng, nhà nước bù đắp những gì thiệt thòi có thể. Nhưng có những nỗi đau ko thể nhìn thấy, ko bù đắp được, như là nhân vật sĩ quan QĐND Việt Nam được anh Cần đã viết trong đoạn tản văn trên. Văn cảm động, nhưng ko giải thích được vì sao người sĩ quan quân đội lại ko muốn về sống cùng vợ con khi chiến tranh đã kết thúc, đó là niềm mơ ước của hàng triệu người VN cơ mà. Chắc chắn đã có nỗi niềm lẩn khuất của người chồng, hay người vợ? Của người bố, hay người mẹ? Chính từ nỗi khuất đó đã kết nên nỗi niềm buồn tủi của những đứa trẻ sống trong mái nhà ko được đủ đầy cả bố và mẹ. Tôi thích ý tưởng câu kết cuối của tản văn trên: có những lúc tưởng rằng đã mất đi tất cả, hoá ra đó chính là lúc được đủ đầy nhất.

    Trả lờiXóa