Phạm Xuân Cần
Hai
anh em cứ lớn lên mà như là không có bố.
Không phải là bố đã mất từ lâu, không
nhìn thấy mặt. Không phải vì bố đi biệt tăm, không để lại dấu vết. Không, khi
chúng lên chín, lên mười bố thỉnh thoảng vẫn ghé qua nhà, để lại những ngày,
những giờ sum họp hạnh phúc nhất. Nhưng, vì chiến tranh lâu lâu bố mới ghé qua
nhà, rồi lại đi. Còn thì bố ở trên tường, trong tấm ảnh vị sĩ quan mang quân
hàm đại uý, mặc quân phục có đeo dây chéo. Dưới vành mũ kê pi kiểu cũ rất
hiền, ánh mắt bố cũng rất hiền, mà sao phảng phất buồn xa xăm.
Chiến tranh kết
thúc, bố nghỉ hưu. Chỉ ở nhà một thời gian ngắn, rồi ông lại ra đi. Và, lần
này thì không về nữa. Ông về Nam ,
về Huế, quê hương ông. Người ta đồn trước khi tập kết ông đã có vợ ở quê, nay
trở về sống với người ấy cho trọn nghĩa. Nếu thế thì cũng đành lẽ... Nhưng
không, mấy lần vào thăm, anh cũng chỉ thấy bố sống cùng người em gái ruột,
không chồng, không con, suốt ngày tụng kinh niệm Phật.
Rồi
hai anh em anh lần lượt vào đại học, rồi lập gia đình, rồi làm nhà mới...
Những dịp trọng đại ấy anh đều vào thăm, báo với bố và mời bố về. Ông chỉ ngồi
im trước chén rợu suông, mái đầu bạc im phăng phắc, ánh mắt buồn như khóc.
Hỏi mẹ, mẹ cũng chỉ thở dài: "Thôi thì để bố yên..." Làm nhà mới, tấm
ảnh vị sĩ quan mang quân hàm đại uý được gỡ xuống, cho vào quyển album cũ của
gia đình.
Càng
về già, ông càng tiều tuỵ. Dù với lương hưu trung tá ông đủ sống, nhưng
không hiểu sao hai anh em, hai người già ấy cứ thui thủi trong túp lều nhỏ
dựng trên mảnh đất hương hoả trong Thành nội. Thỉnh thoảng vào thăm ông, anh
đều không cầm nổi nước mắt. Mấy lần khẩn khoản mời ông về Vinh, nhưng đều vô
hiệu.
Mọi thứ với
anh đã đủ đầy, nhưng sao cái mặc cảm như không có bố cứ trĩu nặng trong lòng,
không sao cất nổi.
Rồi
tin sét đánh: Bố mất ! Hai anh em cùng mẹ tức tốc vào Huế. Bố đây: chiếc quan
tài trơ trọi đặt trên sân chùa vắng. Bên cạnh là cô em gái nay đã là bà lão
ngoài bảy mươi, ngồi trước bát hương, bình thản lần tràng hạt. Phải đưa bố
về thôi. Anh quyết định ngay mà không hỏi mẹ. Nhưng, bà cũng lặng lẽ đồng
tình. Và bố đã về đây, nơi gần ba mươi năm trước ông đã ra đi. Tấm chân dung cũ
được đưa ra, phóng to đặt trước linh sàng. Ông chỉ nằm lại trong ngôi nhà
mình có một đêm, rồi ra nghĩa trang thành phố, chỉ có tấm di ảnh là ở lại trên
bàn thờ. Trong ảnh, vẫn là viên đại uý có ánh mắt hiền, dưới vành mũ kê pi
kiểu cũ trông cũng rất hiền.
Bây
giờ thì bố đã ngồi đó, lặng lẽ nhìn mẹ, nhìn con, nhìn cháu. Buồn đau vì bố
không còn, nhưng tự nhiên anh cảm thấy thật đủ đầy. Đó là cảm giác gần ba mươi
năm nay anh không có được. Cuộc đời thật công bằng khi cuối cùng cũng đã đưa
bố về cho anh. Nhưng, cuộc đời cũng thật khắc nghiệt, chỉ khi bố không còn
trên đời này nữa, anh mới thật sự cảm thấy như là có bố…
Chiến tranh đã lùi xa, những ngôi nhà, đường sá tan hoang giờ đã phục hồi. Tuổi trẻ 8x ko biết chiến tranh là chi, những gì biết được đều qua sách vở, lời kể...một cách mơ hồ. Chỉ có lứa tuổi 5x trở về trước hiểu biết chiến tranh bằng mồ hôi, nước mắt, máu...Và hơn thế nữa, có nỗi đau chiến tranh ko nói thành lời cứ ngấm dần vào máu, vào tận trái tim. Đó là hậu chiến tranh cho đến ngày hôm nay chúng ta vẫn còn thấy: Những đứa trẻ tàn tật vì chất độc màu da cam, những người thương binh tàn phế...Nhưng dù sao, tầng lớp này vẫn được hưởng chế độ của Đảng, nhà nước bù đắp những gì thiệt thòi có thể. Nhưng có những nỗi đau ko thể nhìn thấy, ko bù đắp được, như là nhân vật sĩ quan QĐND Việt Nam được anh Cần đã viết trong đoạn tản văn trên. Văn cảm động, nhưng ko giải thích được vì sao người sĩ quan quân đội lại ko muốn về sống cùng vợ con khi chiến tranh đã kết thúc, đó là niềm mơ ước của hàng triệu người VN cơ mà. Chắc chắn đã có nỗi niềm lẩn khuất của người chồng, hay người vợ? Của người bố, hay người mẹ? Chính từ nỗi khuất đó đã kết nên nỗi niềm buồn tủi của những đứa trẻ sống trong mái nhà ko được đủ đầy cả bố và mẹ. Tôi thích ý tưởng câu kết cuối của tản văn trên: có những lúc tưởng rằng đã mất đi tất cả, hoá ra đó chính là lúc được đủ đầy nhất.
Trả lờiXóabài viết thật cảm động
Trả lờiXóa