Phạm Xuân Cần
Anh là tiến sỹ toán, học ở Ba Lan về. Tôi là học trò của anh, khi học môn toán xác suất. Sau này ở lại trường, dù giảng dạy khác khoa, nhưng chúng tôi là đồng nghiệp của nhau, cùng ở chung một dãy nhà tập thể, dùng chung một bể nước, xem chung một cái tivi của trường. Tối tối lại bù khú với nhau bên ấm trà, với câu chuyện bất tận của những anh chàng độc thân, nghèo rớt mồng tơi. Và, anh là một trong những yếu tố quan trọng giúp chúng tôi sống sót qua những ngày bao cấp khốn khó thời ấy.
Cái biệt danh “Dzí cái cò” không biết có từ bao giờ, do ai đặt, chỉ biết khi tôi biết anh thì đã biết luôn cái tên ấy. Đơn giản nó xuất phát từ câu đầu lưỡi của anh, “có cái gì!”. Nào là “Con cá thì có cái gì!”; “bánh xà phòng thì có cái gì!”; “cái cặp thì có cái gì!”…Nghĩa là, theo anh thì chẳng có gì là quan trọng cả. “Có cái gì” thành “Dzí cái cò” lúc nào không ai hay. Không hiểu sao khi đọc Za đích của Vôn te là tôi lại nghĩ đến anh.
 |
| Con cá thì "có cái gì"! |
Nghe nói biệt danh "Dzí cái cò" này bắt nguồn từ câu chuyện anh mua cá. Hôm ấy anh đi Hà Đông, dọc đường về thấy mấy bà vừa tát cá lên bán ngay vệ đường. Người mua đông lắm, anh cũng ghé xe đạp lại mua mấy con mè. Trái với mọi người, anh không mặc cả, nói sao mua vậy, thậm chí mấy bà bán cá cân điêu cũng mặc. Thế nhưng, khi đã trả tiền xong, bỗng nhiên anh cúi xuống nhặt thêm một con cá cho vào túi. Mấy bà bán cá tức thì tru tréo lên. Bình thản như không, anh thủng thẳng: “Con cá thì có cái gì!”. Đoạn, đạp xe đi thẳng. Mấy bà bán cá và khách hàng chỉ biết nhìn theo lắc đầu.
Anh nói giọng Thanh đặc sệt. Trong lúc bọn Nghệ chúng tôi cố gắng đến trẹo mồm để cho học sinh người Bắc dễ nghe, thì anh mặc kệ. Ngay buổi đầu tiên vào lớp, anh đã tuyên bố với chúng tôi: "Trong khi giảng bài tôi thường dùng một số “quán từ” địa phương, mong các anh chị thông cảm và "chiệu" khó lắng nghe”. Ba mươi mấy năm đã qua tôi vẫn nhớ như in câu "gieo một con xúc xắc", với thổ âm đặc biệt của anh, khi bắt đầu một bài giảng xác suất. Biết anh hạn chế về ngôn ngữ, khoa toán khi đó thường bố trí cho anh đọc báo, đọc tài liệu mỗi khi sinh hoạt tập thể. Nhưng xem chừng tình hình cũng không cải thiện được mấy. Anh không thể nào phát âm đúng vần “ều”, vần “ừu”. “Lều” thì đọc là “liều”, “cừu” thì thành “kiều”. Thế nên Khoa Toán khi đó có câu: “Mông Cổ nuôi triệu con Kiều/ Liên Xô chỉ một túp liều Lê nin”. Về Thanh Oai chơi nhà anh Hải, thấy bà mẹ anh Hải bán quán nước, anh liền hỏi: “Ô, thế bà làm nghề “gian thương” à?”. Sau đó anh Hải giải thích mãi mà bà mẹ vẫn còn giận. Người hay trêu chọc anh nhất hóa ra lại là mấy đồng hương Thanh Hóa, mà đầu têu là anh Thuân, anh Trừu. Có hôm anh Thuân còn đố anh kể đúng tên các giác quan của người, Anh chỉ nói được “xúc giác”, còn lại chỉ vào tai là “tai giác”, mắt là “mắt giác” và tất nhiên mũi là "mũi giác"…Nghe cười đau cả bụng.
Có câu chuyện tôi nghe anh Thuân kể, sau đó được anh Luận dạy Nga văn xác nhận. Số là hồi ấy anh khá là khó khăn trong việc cưa cẩm. Tuổi thì đã lớn rồi, nên các cụ ở nhà cũng sốt ruột. Lần ấy anh “cưa” một cô đồng hương đang học bên Đại học sư phạm. Nghe tin, ông bố ở quê mừng lắm, tức tốc ra Hà Nội để xem mặt con dâu tương lai. Trong lúc anh đi đón khách thì ông bố đợi trong phòng ở tập thể. Đợi mãi mới thấy anh về một mình, ông liền hỏi: “Thế nó đâu?”. “Dạ con đang “quàn” ngoài cổng!”. (Chữ “quàn” này tôi nghi anh Thuân bịa). “Rứa thì đưa vô đây”. Cô gái vào cùng một cô bạn khác. Ông bố vồn vã hỏi chuyện. Đồng hương gặp nhau nên không quan ngại chuyện ngôn ngữ lắm. “Chứ hai cô ở huyện mô ta?”. “Dạ chúng cháu ở…”. “Rứa à? ở đó có biết chợ ...không?”. “Có ạ! Thế bác cũng biết chợ nớ à?”, “Chợ nớ thì ai không biết. Quá biết nữa là khác. Thời Pháp thuộc con gái ở đó tinh mần đĩ!”. Khỏi nói vụ cưa gái này của anh đi đến đâu.
Rốt cục rồi anh cũng lấy vợ, đó là một chị làm thương nghiệp ở Thị xã Thanh Hóa. Thương nghiệp khi đó đang là nghề “hot”, nhưng ai hỏi anh cũng chỉ nói “có cái gì!”. Sau đám cưới, anh từ ga tàu trở về trường trong một bộ dạng không có gì tức cười hơn: quần đùi, áo may ô và trên tay là lủng lẳng một chiếc cặp lồng. Té ra trên tàu nóng quá, anh cởi quần áo dài ra nằm ngủ. Đến ga Hàng Cỏ, tỉnh dậy thì đồ đạc đã bị cuỗm sạch. “Có cái gì!”, anh chỉ lẩm bẩm một câu rồi cứ thế, quần đùi, áo lót, xách…cặp lồng về. Nghe tin anh mất cắp trên tàu cả khoa toán vội xuống hỏi thăm. Ai cũng xuýt xoa, tiếc cái này cái khác. Ấy thế mà anh vẫn bình thản như không: “Có cái gì mà tiếc!”. Hỏi, thì anh thủng thẳng kể ra từng thứ. “Này nhá, cái cặp là của tay Tín. Tay này vừa đi Tiệp về. Cái cặp thì có cái gì! Cái “mủ” là của tay Luận, năm nay lại phát quân trang rồi. Cái “mủ” thì có cái gì! Còn cái quần bát-kết hả? Tớ cũng mặc được ba nước rồi. Quần thì có cái gì!”. Cứ thế, cứ thế, nghe anh giải thích thì quả là cũng không “có cái gì” thật. Nhưng, cuối cùng vẫn có người tiếc rẻ là cuộn phim chụp ảnh đám cưới, chụp xong anh Luận đưa lại cho anh chưa kịp tráng cũng bị mất. Mọi thứ mất có thế sắm lại được, chứ đám cưới làm sao “diễn’ lại được mà chụp. Đúng là tiếc thật. Tưởng rằng anh cũng tiếc, ai ngờ anh trả lời ráo hoảnh: “Ôi dào! Cuộn phim do tay Luận, tay Sơn, mấy tay thợ vườn đó chụp thì chắc gì đã được! Có cái gì!” Cả Khoa Toán đồng thanh: “Có cái gì! Dzí cái cò!”, rồi kéo nhau ra về.
 |
| Vàng thì "có cái gì'! |
Anh là người thật thà, cả tin, tính lại xuề xòa, không cho cái gì là quan trọng, nên đương nhiên luôn là đối tượng chính và là nhân vật chính trong các trò đùa và câu chyện tinh nghịch của chúng tôi. Một hôm, tôi và anh Tạ Quốc Trị đang sửa xe đạp trước cửa, thì một cái long-đen lăn đâu mất. Đang loạy hoay tìm thì anh đi đâu về, hỏi: “Các ông tìm cái gì thế?”. Anh Trị giả bộ nghiêm trọng, nói nhỏ với anh: “Thằng Cần vừa đi Liên Xô về, được mấy chỉ vàng, lỡ tay rũ cái áo mà không biết nó văng đi đâu”. Anh nghệt mặt ra “Thế à?”, rồi cũng ngồi xuống tìm với chúng tôi. Báo hại, nhìn thấy anh tìm một cách cẩn trọng, nghiêm túc như một chuyên gia khám nghiệm hiện trường thực thụ, tôi và anh Trị cũng phải làm theo, không dám nói là đã trêu anh. Thậm chí, đến khi trời tối, bụng đói cũng không dám lên nhà ăn tập thể ăn cơm, phải kéo đèn từ trong nhà ra tìm tiếp. Dĩ nhiên là làm sao tìm được. Mãi sau, tôi mới đứng dậy và lần này thì không phải anh, mà là chính tôi nói: “Thôi, chỉ vàng thì có cái gì! Ta đi ăn cơm đã, anh ạ”. Dùng dằng mãi anh mới đứng dậy, đi rửa tay.
Mãi mãi về sau, không bao giờ anh biết hôm ấy chúng tôi đã trót đùa mà thành ra là đã lừa anh. Anh đã mất cách đây mấy năm, khi chưa đến tuổi sáu mươi và đang làm trưởng khoa toán tin của trường, khi cuộc sống cũng đã khấm khá hơn. Nghe nói anh mất khi đang về quê chăm bố ốm. Thôi anh ạ, cuộc đời này thì “có cái gì”, cốt sao giữ được cái tình!
Tôi chỉ muốn nhắn với anh một điều thôi, khi xuống dưới ấy anh đừng về chỗ cửa nhà tập thể cũ mà tìm vàng nữa. Chúng tôi đùa anh đấy, không có đâu. Nói vậy thôi, chắc anh không tìm nữa đâu, vì hồi trước anh tìm là tìm cho tôi, chứ với anh, vàng thì “có cái gì”, anh nhỉ!