Chủ Nhật, ngày 30 tháng 10 năm 2011

THƠ NGUYỄN KHẮC AN
Tạp hóa Faxuca: Kính thưa quý vị! Hôm nay Tạp hóa xin giới thiệu một mặt hàng mới: Thơ của nhà thơ có tuổi mà chưa có...tên, Nguyễn Khắc An. Mấy năm trước Chủ tiệm Faxuca đã rất bất ngờ khi tình cờ được hai bài thơ "Trà gừng" và "Chanh muối" đăng trên báo. "Ô hay, tay này mà cũng biết làm thơ!". Từ đó, bèn gọi y là "Nhà thơ của các loại đồ uống". Hôm nay tuy không có đồ uống, nhưng có "hoa", có "em" và một vài "đồ" khác. Xin mời!

Hồi Ức Mùa Hoa Đại

Hoa đại vàng rụng xuống ngoài kia
Từng cánh mỏng chao nghiêng chiều bình lặng


















HÔM NAY HỘI NGHỊ...
                                          Fa - Xu - Ca

Hôm nay hội nghị Trường Thi
Đồng chí phát biểu giống y...Hưng Bình
Hôm qua hội nghị Hưng Bình
Đồng chí phát biểu như hình...Lê Mao























Hôm trước hội nghị Lê Mao
Đồng chí phát biểu hao hao...Hưng Hòa
Ngày mai hội nghị Hưng Hòa
Đồng lại phát như là...Trường Thi
Hôm nay hội nghị Trường thi...

Lời chú:
Bài vè này tôi làm khi còn công tác ở Thành phố Vinh, các địa danh trên là tên các phường xã ở Vinh. Mục đích là để tự trào, cũng như nhắc nhở mình đừng mắc cái bệnh "một bài" của người lãnh đạo, chứ không nhằm ám chỉ hay châm biếm ai. Vì vậy, một đôi lần tôi đã đọc công khai trong các cuộc họp. Sau một thời gian lưu truyền nó đã có thêm một vài dị bản. Trong đó có dị bản mang câu kết: "Hôm nay hội nghị Đông Y/ Đồng chí phát biểu giống y Tâm Thần". (Lưu ý bệnh viện Đông y và bệnh viện Tâm Thần là hai đơn vị thuộc thành phố quản lý). Năm ngoái tôi còn nghe một vài người có trách nhiệm nói rằng đã có dị bản mang tầm...tỉnh. Đó là: "Hôm qua hội nghị Thanh Chương/ Đồng chí phát biểu tương đương...Nam Đàn/ Hôm nay hội nghị Nam Đàn/ Đồng chí phát biểu sàn sàn...Thành Vinh/ Ngày mai hội nghị...". Thiết nghĩ câu chuyện này có lẽ vẫn đang tiếp diễn dài dài.

Thứ Tư, ngày 26 tháng 10 năm 2011

BỊ GẬY


CÔNG NÔNG

- Bác Nông có “sướng” ông Thăng, Bộ trưởng Giao thông mới không?
- Mới sướng được …vài bộ phận.
- Bác nói thế là sao? “Yes hay No”?
- Thì mới nghe ông ấy “nổ” đương nhiên là sướng cái lỗ tai. Xưa nay làm gì có ông “Thượng thư” nào mới nhậm chức mà đã “chém gió” ào ào như vậy.
- Ông ấy còn “trảm” nữa chứ. Vào sân bay Đà Nẵng trảm ngay Trưởng ban quản lý dự án, lên Thăng Long Nội Bài lại ra lệnh thay đến năm nhà thầu. Bác không “sướng” à?
- Đạo làm tướng, nghe nói trước khi ra uy thì phải gia ân, chưa thấy bác này gia ân, chỉ thấy “trảm”. Hơn nữa nghe nói bác ấy cũng chỉ mới “nổ” vậy thôi, trên thực tế chưa có ai bị thay cả. Chưa thấy, nên “bộ phận mắt” cũng chưa sướng.

Thứ Ba, ngày 25 tháng 10 năm 2011

NHÀ VĂN BÁ DŨNG VÀ CÂU CHUYỆN "ĐÀN ÔNG LOẠI MỘT"

                                                                             Phạm Xuân Cần


Nhà văn Bá Dũng (người ngồi giữa)
          
 Khi mới về thành phố Vinh công tác, tôi đã nghe một giai thoại. Chuyện kể rằng: cứ mỗi buổi sáng, trên đường phố Ngư Hải thường có một người phụ nữ lớn tuổi vừa chạy thể dục, vừa hô khẩu hiệu: “Đảng CSVN muôn năm!”. Ai cũng thấy lạ. Tò mò tìm hiểu mới biết đó là bà Chẩn, vợ ông Bá Dũng, phó bí thư Thành ủy Vinh. Hỏi, thì bà nói rằng: “ông Bá Dũng nhà tôi là nhà văn, đào hoa lắm. May mà làm công tác Đảng, được Đảng giáo dục, quản lý, không thì hư lâu rồi. Vì rứa tôi phải cám ơn Đảng. Đảng CSVN muôn năm!”. Dĩ nhiên là chuyện bịa và điều kỳ lạ là người kể cho tôi nghe giai thoại này đầu tiên lại chính là anh Bá Dũng. Anh cũng biết ai là người đã bịa ra câu chuyện đó, nhưng hình như anh lại thích thú với nó, nên chẳng trách móc gì họ cả.
Sau đó là cả một kho giai thoại thật giả lẫn lộn về anh, toàn là những chuyện bọn hậu sinh như tôi khi ấy nghe mà…phát thèm! Tôi chưa bao giờ nghe hoặc thấy anh tỏ ra cố gắng thanh minh những lời đồn không thuận cho một nhà chính trị như anh, mà, ngược lại đôi khi lại tỏ ra hãnh diện vì những giai thoại này nọ. Mà anh đẹp trai, hào hoa, phong độ như vậy không có ba cái chuyện kia mới là lạ. Từ vài chục năm về trước khi biết anh tôi đã thấy anh như vậy, phong nhã, hào hoa với mái tóc trắng như cước. Có lần tôi nửa đùa nửa thật nói với anh: “Sao anh không nhuộm tóc đi cho nó trẻ?”. Anh cười: “Nhuộm đi thì còn gì là Bá Dũng nữa”. Sau đó anh còn ghé tai tôi nói nhỏ: “Tóc ánh kim, …im ánh thép”!
Về hưu, mỗi buổi chiều anh lại quần xooc trắng, áo phông trắng và đương nhiên mái đầu cũng trắng, lững thững dắt cháu đến cơ quan cũ đánh bóng chuyền. Có hôm hứng lên anh còn gọi mấy đứa nhân viên nữ trẻ mới về cơ quan cho xem điện thoại. Bọn trẻ xem tin nhắn trong điện thoại của anh, thỉnh thoảng lại kêu ré lên, hoặc xuýt xoa “eo ôi bác Dũng già rồi mà toàn các em xin chết”. “Đứa mô thích chết tau cho chết!”, anh tuyên bố rồi huýt còi chạy ra sân. Ở đó anh vừa là cầu thủ, vừa là trọng tài. Khi đánh bóng anh cũng hồn nhiên như bọn trẻ, cũng ăn gian, chửi tục, lại còn cậy thế trọng tài bắt và đếm lung tung. Có lần một vị lãnh đạo cùng chơi thấy vậy nửa đùa nửa thật nói: “Bác Dũng ăn gian, nói tục như rứa tôi nói với Đảng bộ phường xếp bác đảng viên loại hai đấy”. “Khi mô bồ tau hắn xếp tau đàn ông loại hai tau mới sợ”. Toét! Toét! Anh lại thổi còi và chơi tiếp.
Sau lần ấy, tôi có “thơ” trêu anh:
“Về hưu ai tập dưỡng sinh
Riêng bác Bá Dũng một mình dưỡng…thai
Đảng viên thì xếp loại hai
Đàn ông loại một, vừa dài, vừa to!”
Anh khoái lắm. Tiệc rượu nào anh cũng đưa “thơ” của tôi ra đọc. “Đèo mẹ! Cả thành phố ni chỉ có ông Cần là đánh giá đúng năng lực của mình!”.
Hồi anh viết cuốn “Muôn nẻo đường đời” được dư luận quan tâm lắm, vì nó dựa trên những chuyện thâm cung bí sử của lãnh đạo tỉnh. Một hôm ngồi uống rượu tôi hỏi anh: “Nhân vật giám đốc trong truyện là thằng mô mà sướng rứa bác? Buổi sáng thì một em “cánh tay trần rực lửa” chia tay ở Vinh, buổi trưa ngủ ở Nghĩa Đàn cũng một em “rực lửa cánh tay trần”, đêm ra Gia Lâm lại một em “rực” đủ thứ. Nó là thằng mô, bác chỉ cho bọn em biết, để bọn em còn học tập, nhân rộng mô hình?”. Anh thong thả nhấp một ngụm rồi thủng thẳng: “Nó là tau đây, chứ thằng máu mô!”. Quả thật đến bây giờ cũng nỏ biết anh đùa hay thật.
Tọa đàm văn xuôi Bá Dũng (Nhân giỗ đầu của anh, 8.2009)
Một buổi chiều vợ chồng tôi cùng bạn bè đi xem đá bóng, gặp anh. Là ngày cuối năm dương lịch, nên tan cuộc cả bọn rủ nhau đi ăn tất niên và mời anh đi cùng. Vào mâm đợi mãi vẫn chưa thấy anh đâu, tôi chạy ra cổng đón, thì thấy anh đang dương ô đứng đó trong mưa bụi. “Bác đợi con em của bác, đưa đến cho các chú thèm!”. Một lúc sau anh đi vào với một phụ nữ tuy không còn trẻ, nhưng cao ráo và đẹp một cách sắc sảo, đài các. “Đây là bồ của bác!”. Anh hồn nhiên giới thiệu, rồi mặc cho chị kia tỏ vẻ e ngại, anh vào cuộc, uống rượu, đọc thơ bậy và nói tục say sưa. Vợ tôi trố mắt, kinh ngạc. Về đến nhà nàng mới nói: “Thật không ai như bác Bá Dũng”. Chả biết là khen hay chê.

Tết năm nào tôi cũng thay mặt cơ quan đến chúc tết nhà anh. Một lần khi tiễn đoàn cơ quan ra cửa, anh cười và đùa tôi: “Cái ông Cần này dở thật, ai lại đưa phong bì cho bà Chẩn. Bà ấy “quốc hữu hóa” ngay, lấy gì cho bác đi con em?”. Tức thì tôi rút ngay ra một phong bì khác: “Phong bì đưa cho chị Chẩn là của cơ quan chúc tết, chỉ có ba trăm ngàn thôi. Còn tiền viết sử của bác ba triệu, em đang giữ đây”. Anh nhận phong bì và cười sảng khoái: “Ông thật xứng đáng kế nhiệm tôi!”. Nói vậy thôi, trên đời này tôi ít thấy ai chỉn chu với vợ con, với các cháu như anh. Hầu như anh là người không nề hà chuyện nội trợ, từ đi chợ đến nấu ăn (và nấu ăm ngon) rồi chăm sóc  con cháu…

Nhà văn Bá Dũng (áo đen bên phải) và tác giả (áo trắng đi sau) tại lễ tang nhà thơ Minh Huệ (10/2003)
Anh kể hồi xưa vì đẹp trai, tài hoa nên nhiều em “xin chết”. Vì anh mà một nữ tu đã rời khỏi dòng tu, hoàn tục. Anh cho biết đó là nguyên mẫu một nhân vật trong tiểu thuyết “Nỗi đau muôn thuở”. Chuyện đó tôi tin, cũng như tin anh là người hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về tôn giáo và đời sống ép xác của các nữ tu. Có vậy anh mới thành công đến thế trong cuốn tiểu thuyết tư liệu “Chuyện trong khu vườn cấm”, cuốn sánh gối đầu dường của bọn tôi khi nghiên cứu về tôn giáo. “Bây giờ thì tếu táo thế này, chứ hồi trẻ mình nghiêm túc như thầy tu, lại làm công tác đảng nữa...”. Anh kể có lần một nhà thơ nữ rủ anh về quê, đi tắm sông. Cô này giả bộ bị chuột rút, anh vội vàng bơi đến cứu. Tức thì cô ta ôm chặt lấy anh. Anh kéo cô ta lên bờ, chửi cho một trận và bỏ về. “Bác nói cho thật, em thấy chẳng qua là vì chị này không được đẹp…”. “Cũng có lý do đó, nhưng quả thật hồi ấy mình nghiêm mà lại sợ nữa”. Hồi chiến tranh phá hoại anh làm việc ở Tỉnh ủy, đêm đêm vẫn thường đi bắn chim với một vị lãnh đạo tỉnh, thân tình lắm. Trong cơ quan cũng có một cán bộ nữ trẻ đẹp, ai cũng cố gán ghép cho anh. Một tối đi bắn chim, đột nhiên vị lãnh đạo hỏi anh: “Tau hỏi thật mi, mi đã …ụ con nớ chưa?” Anh sững sờ vì tức giận, vì bất ngờ, không thể tưởng tượng nổi một vị lãnh đạo cao cấp mà lại ăn nói như thế. Anh lắp bắp mãi mới thốt ra được một câu: “Bác là đồ…đồ mất dạy!”, rồi bỏ về. Hôm sau vị lãnh đạo nọ phải gặp anh xin lỗi. “Đúng là hồi đó mình ngu thật”. Anh kể lại chuyện này và luôn giành cho vị lãnh đạo nọ một tình cảm và sự kính trọng đặc biệt. Anh coi đó là hình mẫu một con người không bị chức quyền làm mất đi sự tự nhiên, hồn nhiên, không cố lên gân đạo mạo, đặc biệt không đạo đức giả.
 Anh Bá Dũng ơi, bác ấy mất lâu rồi, anh cũng mất rồi, lãnh đạo như rứa bây giờ là quý hiếm lắm, là “sách đỏ” rồi anh ạ…
Bây giờ xuống dưới đó chắc anh chẳng còn sợ ai xếp loại một, loại hai nữa đâu anh nhỉ. Bọn em trên này thì hãy còn nhiều thứ để mà sợ lắm, nhất là chuyện xếp loại, anh ơi!

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 10 năm 2011

Những chế độ cai trị bằng bàn tay sắt chắc chắn sẽ đến ngày cáo chung


Tổng thống Barack Obama nói về cái chết của cựu lãnh đạo Libya, Muammar Gaddafi, trong buổi họp báo ngày hôm qua
Phạm Nguyên Trường dịch
 
Xin chào tất cả mọi người. Hôm nay chính phủ Libya tuyên bố rằng Muammar Qaddafi đã chết. Điều này đánh dấu chấm hết cho một chương đầy đau khổ và kéo dài của nhân dân Libya. Hiện nay người dân nước này đang có cơ hội quyết định số phận của mình trong một nước Libya mới và dân chủ.
Chế độ của Qaddafi đã cai trị nhân dân Libya bằng bàn tay sắt trong suốt bốn mươi hai năm qua. Những quyền làm người căn bản bị phủ nhận. Những người công dân vô tội bị cầm tù, bị tra tấn và bị giết hại. Và của cải của Libya đã bị lãng phí. Tiềm năng to lớn của nhân dân Libya đã bị ngăn chặn, khủng bố được dùng làm vũ khí chính trị.
Hôm nay chúng ta có thể nói một cách chắc chắn rằng chế độ của Qaddafi đã cáo chung. Những thành trì cuối cùng của chế độ đã thất thủ. Chính phủ mới đang củng cố quyền kiểm soát đất nước. Và một trong những nhà độc tài nắm quyền lâu nhất đã không còn.
Một năm trước đây khái niệm về nước Libya tự do có vẻ như là khái niệm bất khả thi. Nhưng nhân dân Libya đã vùng lên và đòi quyền của mình. Và khi Qaddafi và lực lượng của ông ta bắt đầu tiến từ thành phố này sang thành phố khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác để truy sát đàn ông, đàn bà và trẻ con thì thế giới không chịu khoanh tay đứng nhìn nữa.

VĂN TẾ KADAFI

                                                       Fa - Xu - Ca
Nhớ linh xưa
Tóc ông bù xù, mắt ông thô lố











Đít ông độc tài, mồm ông xưng “bố”
Ông hay ở trong lều, ông ăn nhiều dầu mỏ
Ví ông: quốc gia ngân khố,
Ông viết Sách Xanh để lừa con đỏ.

Thứ Tư, ngày 19 tháng 10 năm 2011

RÂU TÔM RUỘT BẦU

Phạm Xuân Cần
Tặng vợ nhân ngày 20/10, để nhớ một thời khốn khó, vô tư.





















“Râu tôm nấu với ruột bù
Chồng chan, vợ húp gật gù khen ngon”
Nhà mình bây giờ chỉ ăn bầu non
Còn tôm thì ngắt đầu, bóc vỏ
Câu ca cũ như một tích chèo cổ
Thỉnh thoảng chỉ còn nghe trên …ti vi.

ĐẦU TƯ “NỂ”


                                                                                  CÔNG NÔNG
- Bác Nông vẫn theo dõi hội nghị xúc tiến đầu tư vào Bắc Trung bộ, tổ chức ở ta chứ?
- Có chứ. Hoành tráng thật đấy. Cả nghìn con người. Phó Thủ tướng Chính phủ dự phát biểu, quan chức các Bộ, ngành, quan chức ngoại giao, doanh nghiệp trong và ngoài nước, ta, tây ngồi chật cả hội trường. Ai phát biểu cũng hay, cũng tâm huyết với cái đòn gánh miền Trung, giàu tiềm năng mà nghèo tiền bạc. Lại còn trao tại trận mấy cái giấy phép đầu tư, ký tại trận mấy cái cam kết. Phen này chắc Bắc Trung bộ và Nghệ An mình có cơ cất cánh.


- Em cũng nghĩ và tin như bác nói. Phải công nhận ta ngày càng tỏ ra chuyên nghiệp hơn trong xúc tiến đầu tư.

Thứ Ba, ngày 18 tháng 10 năm 2011

"EN - NỜ - RÊ - U"

                                                                                                            CÔNG NÔNG
- Học tập và làm theo Đà Nẵng, Nam Định lại làm một chuyện động...người nữa bác Nông ạ. Đích thân ông chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Tuấn tuyên bố từ nay tỉnh Nam không tuyển dụng công chức là những người tốt nghiệp đại học dân lập, tư thục, hoặc hệ tại chức.
- Chuyện này hay à nha!
- Dư luận đang ồn ào cả lên. Người phản đối nói sai luật, không công bằng, không nhân văn. Kẻ đồng tình thì nhân cơ hội này “hạ nhục” anh tại chức xuống hàng “en nờ- rê- u”. Cũng không ít người “ném cát bụi tre”, chẳng hiểu họ thuộc phe nào, “chủ hoà”, hay “chủ chiến”. Cứ rối tinh cả lên!
- Theo tớ, thực ra nếu đúng khái niệm thì làm gì có chuyện tuyển dụng người tốt nghiệp tại chức vào cơ quan nữa. Họ đã “tại chức” rồi mới đi học cơ mà? Ngày xưa gọi là hàm thụ ấy!
- Đúng trước đây như thế, đa phần tại chức là “tại cái chức, phải đi học”. Nhưng, chuyện ấy xưa rồi. Nay, chả có “chức” gì để mà “tại” cũng đi học. Học xong rồi thì tìm cách vào cơ quan nhà nước. Nói thật với bác, em là em ủng hộ phái “nói không với tại chức”.
- Tại chức cũng hay đấy chứ. Nếu không có tại chức thì làm sao các cấp từ tỉnh xuống xã đạt chỉ tiêu “tiêu chuẩn hoá cán bộ được”. Chú không về xã mà coi, 100% đại học, đủ tiêu chuẩn trí thức cả đấy. Chả lẽ tại chức đại học lại không hơn “tại chức...vô học” à?

Thứ Bảy, ngày 15 tháng 10 năm 2011

DZÍ CÁI CÒ

                  Phạm Xuân Cần
Anh là tiến sỹ toán, học ở Ba Lan về. Tôi là học trò của anh, khi học môn toán xác suất. Sau này ở lại trường, dù giảng dạy khác khoa, nhưng chúng tôi là đồng nghiệp của nhau, cùng ở chung một dãy nhà tập thể, dùng chung một bể nước, xem chung một cái tivi của trường. Tối tối lại bù khú với nhau bên ấm trà, với câu chuyện bất tận của những anh chàng độc thân, nghèo rớt mồng tơi. Và, anh là một trong những yếu tố quan trọng giúp chúng tôi sống sót qua những ngày bao cấp khốn khó thời ấy.
Cái biệt danh “Dzí cái cò” không biết có từ bao giờ, do ai đặt, chỉ biết khi tôi biết anh thì đã biết luôn cái tên ấy. Đơn giản nó xuất phát từ câu đầu lưỡi của anh, “có cái gì!”. Nào là “Con cá thì có cái gì!”; “bánh xà phòng thì có cái gì!”; “cái cặp thì có cái gì!”…Nghĩa là, theo anh thì chẳng có gì là quan trọng cả. “Có cái gì” thành “Dzí cái cò” lúc nào không ai hay. Không hiểu sao khi đọc Za đích của Vôn te là tôi lại nghĩ đến anh.
Con cá thì "có cái gì"!
Nghe nói biệt danh "Dzí cái cò" này bắt nguồn từ câu chuyện anh mua cá. Hôm ấy anh đi Hà Đông, dọc đường về thấy mấy bà vừa tát cá lên bán ngay vệ đường. Người mua đông lắm, anh cũng ghé xe đạp lại mua mấy con mè. Trái với mọi người, anh không mặc cả, nói sao mua vậy, thậm chí mấy bà bán cá cân điêu cũng mặc. Thế nhưng, khi đã trả tiền xong, bỗng nhiên anh cúi xuống nhặt thêm một con cá cho vào túi. Mấy bà bán cá tức thì tru tréo lên. Bình thản như không, anh thủng thẳng: “Con cá thì có cái gì!”. Đoạn, đạp xe đi thẳng. Mấy bà bán cá và khách hàng chỉ biết nhìn theo lắc đầu.
Anh nói giọng Thanh đặc sệt. Trong lúc bọn Nghệ chúng tôi cố gắng đến trẹo mồm để cho học sinh người Bắc dễ nghe, thì anh mặc kệ. Ngay buổi đầu tiên vào lớp, anh đã tuyên bố với chúng tôi: "Trong khi giảng bài tôi thường dùng một số “quán từ” địa phương, mong các anh chị thông cảm và "chiệu" khó lắng nghe”. Ba mươi mấy năm đã qua tôi vẫn nhớ như in câu "gieo một con xúc xắc", với thổ âm đặc biệt của anh, khi bắt đầu một bài giảng xác suất. Biết anh hạn chế về ngôn ngữ, khoa toán khi đó thường bố trí cho anh đọc báo, đọc tài liệu mỗi khi sinh hoạt tập thể. Nhưng xem chừng tình hình cũng không cải thiện được mấy. Anh không thể nào phát âm đúng vần “ều”, vần “ừu”. “Lều” thì đọc là “liều”, “cừu” thì thành “kiều”. Thế nên Khoa Toán khi đó có câu: “Mông Cổ nuôi triệu con Kiều/ Liên Xô chỉ một túp liều Lê nin”. Về Thanh Oai chơi nhà anh Hải, thấy bà mẹ anh Hải bán quán nước, anh liền hỏi: “Ô, thế bà làm nghề “gian thương” à?”. Sau đó anh Hải giải thích mãi mà bà mẹ vẫn còn giận. Người hay trêu chọc anh nhất hóa ra lại là mấy đồng hương Thanh Hóa, mà đầu têu là anh Thuân, anh Trừu. Có hôm anh Thuân còn đố anh kể đúng tên các giác quan của người, Anh chỉ nói được “xúc giác”, còn lại chỉ vào tai là “tai giác”, mắt là “mắt giác” và tất nhiên mũi là "mũi giác"…Nghe cười đau cả bụng.
Có câu chuyện tôi nghe anh Thuân kể, sau đó được anh Luận dạy Nga văn xác nhận. Số là hồi ấy anh khá là khó khăn trong việc cưa cẩm. Tuổi thì đã lớn rồi, nên các cụ ở nhà cũng sốt ruột. Lần ấy anh “cưa” một cô đồng hương đang học bên Đại học sư phạm. Nghe tin, ông bố ở quê mừng lắm, tức tốc ra Hà Nội để xem mặt con dâu tương lai. Trong lúc anh đi đón khách thì ông bố đợi trong phòng ở tập thể. Đợi mãi mới thấy anh về một mình, ông liền hỏi: “Thế nó đâu?”. “Dạ con đang “quàn” ngoài cổng!”. (Chữ “quàn” này tôi nghi anh Thuân bịa). “Rứa thì đưa vô đây”. Cô gái vào cùng một cô bạn khác. Ông bố vồn vã hỏi chuyện. Đồng hương gặp nhau nên không quan ngại chuyện ngôn ngữ lắm. “Chứ hai cô ở huyện mô ta?”. “Dạ chúng cháu ở…”. “Rứa à? ở đó có biết chợ ...không?”. “Có ạ! Thế bác cũng biết chợ nớ à?”, “Chợ nớ thì ai không biết. Quá biết nữa là khác. Thời Pháp thuộc con gái ở đó tinh mần đĩ!”. Khỏi nói vụ cưa gái này của anh đi đến đâu.

Rốt cục rồi anh cũng lấy vợ, đó là một chị làm thương nghiệp ở Thị xã Thanh Hóa. Thương nghiệp khi đó đang là nghề “hot”, nhưng ai hỏi anh cũng chỉ nói “có cái gì!”. Sau đám cưới, anh từ ga tàu trở về trường trong một bộ dạng không có gì tức cười hơn: quần đùi, áo may ô và trên tay là lủng lẳng một chiếc cặp lồng. Té ra trên tàu nóng quá, anh cởi quần áo dài ra nằm ngủ. Đến ga Hàng Cỏ, tỉnh dậy thì đồ đạc đã bị cuỗm sạch. “Có cái gì!”, anh chỉ lẩm bẩm một câu rồi cứ thế, quần đùi, áo lót, xách…cặp lồng về. Nghe tin anh mất cắp trên tàu cả khoa toán vội xuống hỏi thăm. Ai cũng  xuýt xoa, tiếc cái này cái khác. Ấy thế mà anh vẫn bình thản như không: “Có cái gì mà tiếc!”. Hỏi, thì anh thủng thẳng kể ra từng thứ. “Này nhá, cái cặp là của tay Tín. Tay này vừa đi Tiệp về. Cái cặp thì có cái gì! Cái “mủ” là của tay Luận, năm nay lại phát quân trang rồi. Cái “mủ” thì có cái gì! Còn cái quần bát-kết hả? Tớ cũng mặc được ba nước rồi. Quần thì có cái gì!”. Cứ thế, cứ thế, nghe anh giải thích thì quả là cũng không “có cái gì” thật. Nhưng, cuối cùng vẫn có người tiếc rẻ là cuộn phim chụp ảnh đám cưới, chụp xong anh Luận đưa lại cho anh chưa kịp tráng cũng bị mất. Mọi thứ mất có thế sắm lại được, chứ đám cưới làm sao “diễn’ lại được mà chụp. Đúng là tiếc thật. Tưởng rằng anh cũng tiếc, ai ngờ anh trả lời ráo hoảnh: “Ôi dào! Cuộn phim do tay Luận, tay Sơn, mấy tay thợ vườn đó chụp thì chắc gì đã được! Có cái gì!” Cả Khoa Toán đồng thanh: “Có cái gì! Dzí cái cò!”, rồi kéo nhau ra về.
Vàng thì "có cái gì'!
Anh là người thật thà, cả tin, tính lại xuề xòa, không cho cái gì là quan trọng, nên đương nhiên luôn là đối tượng chính và là nhân vật chính trong các trò đùa và câu chyện tinh nghịch của chúng tôi. Một hôm, tôi và anh Tạ Quốc Trị đang sửa xe đạp trước cửa, thì một cái long-đen lăn đâu mất. Đang loạy hoay tìm thì anh đi đâu về, hỏi: “Các ông tìm cái gì thế?”. Anh Trị giả bộ nghiêm trọng, nói nhỏ với anh: “Thằng Cần vừa đi Liên Xô về, được mấy chỉ vàng, lỡ tay rũ cái áo mà không biết nó văng đi đâu”. Anh nghệt mặt ra “Thế à?”, rồi cũng ngồi xuống tìm với chúng tôi. Báo hại, nhìn thấy anh tìm một cách cẩn trọng, nghiêm túc như một chuyên gia khám nghiệm hiện trường thực thụ, tôi và anh Trị cũng phải làm theo, không dám nói là đã trêu anh. Thậm chí, đến khi trời tối, bụng đói cũng không dám lên nhà ăn tập thể ăn cơm, phải kéo đèn từ trong nhà ra tìm tiếp. Dĩ nhiên là làm sao tìm được. Mãi sau, tôi mới đứng dậy và lần này thì không phải anh, mà là chính tôi nói: “Thôi, chỉ vàng thì có cái gì! Ta đi ăn cơm đã, anh ạ”. Dùng dằng mãi anh mới đứng dậy, đi rửa tay.
Mãi mãi về sau, không bao giờ anh biết hôm ấy chúng tôi đã trót đùa mà thành ra là đã lừa anh. Anh đã mất cách đây mấy năm, khi chưa đến tuổi sáu mươi và đang làm trưởng khoa toán tin của trường, khi cuộc sống cũng đã khấm khá hơn. Nghe nói anh mất khi đang về quê chăm bố ốm. Thôi anh ạ, cuộc đời này thì “có cái gì”, cốt sao giữ được cái tình!
Tôi chỉ muốn nhắn với anh một điều thôi, khi xuống dưới ấy anh đừng về chỗ cửa nhà tập thể cũ mà tìm vàng nữa. Chúng tôi đùa anh đấy, không có đâu. Nói vậy thôi, chắc anh không tìm nữa đâu, vì hồi trước anh tìm là tìm cho tôi, chứ với anh, vàng thì “có cái gì”, anh nhỉ!

BA SÀM NGÂM KHÚC


 Mừng Nhật báo Ba Sàm – Hãng thông tấn xã vỉa hè 4 tuổi
tap hoa Faxuca: sinh nhật bốn tuổi của BASAM qua vài tháng rồi. Hôm nay nhặt được bài này trên trang của bác Phạm Viết Đào, chôm về quầy tạp hóa cho phong phú mặt hàng.

Thuở tin tức một chiều chán ngắt
Chẳng biết tìm sự thật nơi mô
Bảy trăm tờ báo nhỏ to
Nói cùng một giọng cốt cho an toàn.
Bỗng nhật báo Ba Sàm xuất hiện
Tin đa chiều, phản biện rất hay
Chuyện to nhỏ, chuyện Đông Tây
Đâu là sự thật vào đây mà tìm.
Không ngân sách, không quyền, không chức
Thế mà bao kẻ tức, người ghen
Hắc-kơ thăm hỏi hai phen
Hai lần dựng lại mới nên cơ đồ.
Quan chức cũng tò mò tìm hiểu
Tay này làm báo kiểu chi đây
Vào nhiều rồi bỗng dưng say
Hóa ra từ trước đến nay bị lừa.

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 10 năm 2011

CHỈ SỐ “TƯỞNG BỞ”

                                                                                                                CÔNG NÔNG
- Đúng là xưa nay mình sướng, sướng vào loại nhất thế giới mà không biết, lại còn cứ ca cẩm, rằng thì là Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới.
- Cơn cớ gì mà hôm nay chú em lại “bỗng dưng thấy sướng” vậy?

 - Là vì mấy tuần nay các báo của ta đồng loạt đưa tin Việt Nam được xếp hạng thứ năm thế giới về chỉ số hạnh phúc. Đứng trên cả Mỹ 109 bậc, trên Nhật 70 bậc! Còn cỡ như Hàn quốc, Sinh ga po thì không thèm tính!
- Thế chú cũng tin là dân mình hạnh phúc cỡ ấy à?
- “Why not?” Tại sao không? Đây là xếp hạng của tổ chức NEF của Anh quốc. Nước ngoài họ đánh giá khách quan trung thực, chứ có bị “bệnh thành tích” như thi đua ở ta đâu.
- Thế thì chú mày cứ tin mà tự sướng nhé. Tớ thì nghĩ khác, tớ chỉ tin ở cuộc sống thực của mình thôi.
- Em không nghĩ bác lại hay hoài nghi và bi quan như vậy. Dù sao thì người ta cũng có lý do gì chứ?

THAY GHẾ ĐỔI MỒM

                                                       CÔNG NÔNG
- Bác Nông về hưu lâu chưa nhỉ?
- “Ông lão dưới ruộng đi bừa/là con ông lão ngày xưa đi cày”. Bố mẹ cho tớ về “một cục” từ khi mới sinh ra.
- Vậy là “ngoại phạm”, bác không thuộc “phạm vi điều chỉnh” của “hội chứng” này.
- Hội chứng gì thế?
- Là hội chứng “đổi giọng” của mấy bác về hưu.
- “Thay ghế đổi mồm”, huống hồ hết ghế, dân gian vẫn nói thế, có gì mà bàn?
- Cũng có nhiều chuyện phải bàn đấy bác ạ. Bác có thấy mấy bác về hưu nói mạnh hơn mấy ông đương chức không?  Mấy bác “choai choai” ở địa phương em nỏ tính, em chỉ nói mấy bác trên...”côi”. Có những bác “nhất phẩm, nhị phẩm” hẳn hoi, lúc đương chức cũng chẳng thấy “lập ngôn” gì ghê gớm, chỉ chung chung “cây gì, con gì”, thế mà về hưu hôm trước, hôm sau là khác hẳn, cứ như tái sinh, “phát” đâu ra đấy. Nhiều khi nghe các bác ấy nói, đọc các bác ấy viết sướng râm ran, âm ỷ mấy ngày.
- Chú râm ran âm ỷ, nhưng có nhiều người họ lại không âm ỷ râm ran. Họ nói rằng: ôi dào lúc đương chức quyền sinh quyền sát trong tay thì không nói, không làm, nay về hưu rồi mới nói thì phỏng có ích gì?

Thứ Năm, ngày 13 tháng 10 năm 2011

TRÒ CHUYỆN VỚI CÁI THỚT



                                                                                             Fa – Xu – Ca
                                                                        
- Chào anh Thớt! Quả thật sống với anh đã lâu, nhưng tôi cũng vô tâm. Hôm nay tình cờ đọc bài thơ “Vịnh cái thớt” tôi mới thông cảm...
- Có phải anh muốn nói bài thơ “Vịnh cái thớt” của Trần Mạnh Hảo?
- Anh cũng biết bài ấy à?
- Cũng giống như người, tôi thích câu châm ngôn: “Không có gì thuộc về...thớt mà xa lạ đối với tôi”.
             “Số phận cho ta làm mặt thớt
              Kể gì thịt cá nát đời nhau
              Sinh ra là để người ta chặt
              Ta chỉ ăn toàn những vết dao
.
- Quả thật tôi rất ái ngại và thông cảm cho anh. Bài thơ đã nói rất đúng...
- Ô hay, đó là bài thơ ông Trần Mạnh Hảo vịnh...ông ta đấy chứ! Loài người các anh, nhất là cánh văn nghệ sỹ có cái rất lạ là nói cái này là y như nhằm... cái khác. Ông Hảo ông ấy than thân trách phận, ông ấy trách đời nhưng lại mượn tôi ra nói. Nói thế thì được, chứ lấy tôi để nói cái khác, như: “Cả đời trơ mặt cùng thiên hạ/ Ai sướng gọi em. Em sẽ nằm…”, thì không xong với tôi.
- Nói vậy có nghĩa là anh không cảm thấy đau đớn, nhục nhã hay căm phẫn khi cứ bị người ta... chặt vào mặt?
- Mỗi người mỗi việc, như loài người các anh hay nói là sự phân công xã hội. Tôi không hề cảm thấy đau đớn hay nhục nhã, tôi bình thản nhận những nhát dao chém vào mặt. Thậm chí tôi cảm thấy mình giống cánh ...nghệ sỹ!

Thứ Ba, ngày 11 tháng 10 năm 2011

LỤC LỘ NGÂM KHÚC


                             Đặng Trần...Ôn
                          (Fa - Xu - Ca)


Thuở lục lộ nổi cơn gió bụi
Khách đi đường lắm nỗi truân chuyên
“Thăng”  kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai quy hoạch cho nên nỗi này?

Phố Hà Thành người dày như kiến
Đường Sài Thành xe bện như sông
Sáng ra phải đến cửa công
Nửa đêm xuất phát vẫn không kịp giờ!
Xe cứ nổ vật vờ chẳng tiến


















 Còi cứ kêu mà kiến chẳng bò
Mặc cho pô-lít hét hò
Đường ta ta cứ vừa dò vừa “din”.
Lý Thái Tổ một nghìn năm trước
Có chiêm bao chẳng được thế này:
Triệu người mặt đỏ hây hây
Bước đi một bước giây giây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bừng bừng lửa đốt
Dạ chàng như  xát bột ớt cay

Thứ Hai, ngày 10 tháng 10 năm 2011

LUẬT BIỂU TÌNH NHÌN TỪ... ĐÌNH CÔNG


   Phạm Xuân Cần

Nếu chỉ quan tâm đến nhu cầu quản lý xã hội của chính quyền, không xuất phát từ nhu cầu đảm bảo quyền công dân để nghiên cứu, xây dựng và áp dụng, thực thi, thì luật biểu tình vẫn có nguy cơ trở thành luật...cấm biểu tình!

Xô viết Nghệ Tĩnh
Gần đây dư luận trong và ngoài nước hêt sức quan tâm đến việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao cho Bộ Công an dự thảo Luật biểu tình. Có thể đây là cơ hội đầu tiên cho một quyền cơ bản của công dân được luật hóa sau sáu mươi sáu năm được trịnh trọng ghi trong Hiến pháp. Không thể không liên hệ động thái này của Thủ tướng với những gì diễn ra ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong những ngày tháng 7, tháng 8 vừa qua. Rõ ràng đã chín muồi, nếu không nói là đã muộn cho sự ra đời của bộ luật hết sức quan trọng này. Nhưng, muộn còn hơn không, quyền công dân và nhu cầu quản lý của nhà nước đều trông đợi và kỳ vọng vào luật này. Thế nhưng, nội dung luật biểu tình như thế nào để vừa đảm bảo thực thi quyền dân chủ của dân, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước thì luôn là câu hỏi khó cho tất cả các quốc gia. Trong lúc việc xây dựng luật thậm chí còng chưa được khởi động, thì mọi bình luận thực ra cũng chưa có căn cứ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào những gì đã xẩy ra với các quy định pháp luật về đình công chúng ta cũng có thể dự báo, dự đoán về số phận luật biểu tình, nếu cách tiếp cận để xây dựng và thực thi luật không có gì thay đổi.

Chủ Nhật, ngày 09 tháng 10 năm 2011

TRẦN ĐÌNH QUÁN – NGƯỜI YÊU NƯỚC VÀ NGHỆ SỸ NHIẾP ẢNH ĐẦU TIÊN CỦA XỨ NGHỆ


                                                                                                Phạm Xuân Cần 
            Đưa bài này lên trang tôi không mong gì hơn là được con cháu, họ hàng của   cụ  Trần Đình Quán và rộng ra là đại gia đình Cụ Nghè Yên Mã Trần Đình Phong ở trong và ngoài nước đọc và cho biết thêm thông tin, tư liệu về những người con ưu tú của quê hương.

Lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam đã ghi nhận người đầu tiên đưa nhiếp ảnh vào nước ta là ông quan Đặng Huy Trứ, với hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường, khai trương vào năm 1869 tại Hà Nội. Sau đó, đầu thế kỷ 20 có một nhân vật khác là ông Khánh Ký (tên thật là Nguyễn Văn Xuân) đã có công biến nhiếp ảnh thành một nghề và thậm chí còn xây dựng nên một “làng nghề nhiếp ảnh” độc đáo còn đến tận ngày nay, đó là làng Lai Xá (Hà Tây cũ).
Trong quá trình tìm kiếm những bức ảnh về Vinh đầu thế kỷ 20 trên các trang mạng của Pháp, nhiều lần tôi bắt gặp một cái tên tác giả người Việt, đó là “Tran Dinh Quan”. Và, đó hầu như là cái tên Việt duy nhất tôi bắt gặp, bên cạnh những tác giả người Pháp là những nhà nhiếp ảnh sang Đông Dương tác nghiệp hồi đầu thế kỷ trước. Và, tôi băn khoăn tự hỏi “Tran Dinh Quan” là ai? Một lần, khi được tôi khoe những bức ảnh về Vinh của “Tran Dinh Quan”, nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu nói ngay: Đây là Trần Đình Quán, là con cụ tiến sỹ Trần Đình Phong ở Mã Thành, Yên Thành. Từ đó tôi bắt đầu quan tâm và thu thập tài liệu về nhân vật này. Hỏi những người trong họ Trần của “Cụ Nghè Yên Mã”; về quê Mã Thành, nghiên cứu phả hệ; nghiên cứu tài liệu lưu trữ của mật thám Pháp; tiếp tục lục lọi trên mạng…đó là tất cả những gì tôi đã làm, với một mục tiêu đơn giản: phục dựng chân dung người nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của Xứ Nghệ. Thế nhưng lực bất tòng tâm, thời gian và những biến cố phức tạp của lịch sử đã không cho phép tôi được toại nguyện. Tuy nhiên, cũng phát hiện được đôi điều thú vị và không ít bất ngờ về nhân vật này.

1. Gia thế
Chân dung Cụ Nghè Yên Mã Trần Đình Phong
Trần Đình Quán sinh ra trong một gia đình nhà nho nổi tiếng và danh giá, bố ông là danh nhân, tiến sỹ Trần Đình Phong. Tiến sỹ Trần Đình Phong (1843-1919), đậu tiến sỹ khoa Kỷ Mão, năm Tự Đức thứ 32 (1879), từng giữ chức Đốc học Quảng Nam, Tế tửu Quốc tử giám triều Nguyễn. Cụ là thầy dạy của Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và nhiều nhân vật nổi tiếng khác. Dân gian vẫn gọi ông là “Cụ Nghè Yên Mã”. Đền thờ Trần Đình Phong hiện ở xóm Luỹ, xã Mã Thành, huyện Yên Thành, đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cụ Nghè Yên Mã có mười bốn (chín trai, năm gái) người con, đều là những người thông minh, được ăn học tử tế. Con đầu là Trần Đình Doãn (Trần Nguyên Đỉnh) đỗ cử nhân khoa Canh Tý (1900). Thứ hai và thứ ba là hai tú tài Trần Đình Duyên và Trần Đình Quản. Người con thứ tư là Trần Đình Diệm, từng được những người Duy Tân đề cử và đã trúng cử Đại biểu Trung Kỳ năm 1926. Con thứ năm là Trần Đình Phiên, một trong những nhân vật tiêu biểu của phong trào Duy Tân, làm phụ tá cụ Huỳnh Thúc Kháng, quản lý báo Tiếng Dân trong suốt 16 năm. Trước đó, ông Phiên cũng là một trong hai giáo viên chính ở Trường Dục Thanh. Nguyễn Tất Thành cũng có một thời gian ngắn là đồng nghiệp của Trần Đình Phiên. Trần Đình Phiên cũng là người giao du nhiều với cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh.

CÔNG NÔNG ĐỐI THOẠI


Kính thưa quý vị! 
Lâu nay Faxuca tôi giữ chuyên mục Công Nông Đối Thoại trên tuần báo Lao động Nghệ An. Học tập và làm theo theo kiểu "NÓI HAY ĐỪNG" của bác Lý Sinh Sự trên tờ Lao Động "to", "bác Nông" và "chú Công" tôi"chém gió" tơi bời về đủ mọi chuyện (nhưng cũng chỉ dám "chém" theo chiều gió thôi, nỏ dám chém ngang, chém ngược! hic!).  Đầu năm nay CÔNG NÔNG tôi đã chọn một số bài trong đó in thành cuốn "CHÉM" THEO CHIỀU GIÓ , sách do NXB Lao động xuất bản. Tạp hóa Faxuca từ nay cũng sẽ đăng chuyên mục này đều đặn hàng tuần. Hôm nay xin giới thiệu một vài bài đã đăng để hầu quý vị. Kính mời!


                                                     1000

- Đại lễ qua rồi bác nhỉ. Em xin “in ti viu” bác một câu: ấn tượng lớn nhất của bác về đại lễ là gì?
- Là 1000!
- Bác lại đùa. Mọi năm sau “Ơ rô 2008”, em hỏi bác ấn tượng cái gì, bác cũng nói là 1000. Năm nay, đại lễ Thăng Long Hà Nội hỏi, bác cũng lại 1000. Bác đừng nói là 1000 cái “uy ly am cường” (WC) di động như lần trước đấy nhé.
- Không, 1000, đơn giản là con số 1000. Chú không thấy cái gì cũng cứ một nghìn đấy à? 1000 con rồng, 1000 con chim bồ câu, 1000 bà mẹ VNAH và anh hùng, 1000 bộ áo dài, dàn hợp xướng 1000 người, một nghìn đồng tiền cổ, 1000 vật dụng nhà nông, 1000 bức ảnh... Không ấn tượng mới là lạ.
- Em cũng cảm thấy như bác. Nhưng trước đại lễ nói ra thì sợ người ta “nâng quan điểm” cho là thiếu tinh thần “chào mừng”, nay nghe bác nói em như cởi tấm lòng.
- Nói toạc ra là tớ thấy người ta lạm dụng, người ta ăn theo cái con số 1000 này nhiều quá, đâm ra mất thiêng, thậm chí nhàm, đặc biệt có nhiều trường hợp là nhảm nhí. 1000 con rồng, 1000 con chim bồ câu, 1000 bà mẹ VNAH và anh hùng thì tốt rồi. Nhưng còn nhiều cái 1000 khác xem ra không ổn. Có cô hoa hậu mặc chiếc áo dài có tà dài 1000 cen ti mét.

Thứ Bảy, ngày 08 tháng 10 năm 2011

TỰ HỌA

                    Phạm Xuân Cần

                







  

Trên đường
một chiếc xe ngược chiều
phả vào mũi tôi
làn khói.
Trên đường
một chiếc xe cùng chiều
ném vào mắt tôi
nắm bụi.
  Trên đường
chập chờn một hình nhân
được vẽ bằng
Bụi và Khói.


"Hiện tượng” Đinh La Thăng & niềm tin vào “một thế hệ Bộ trưởng mới”?


                                                                                                       TRƯƠNG DUY NHẤT

Ông Thăng (Đinh La Thăng) tiếp tục được thổi như một hiện tượng và kỳ vọng lớn cho sự… thay chuyển!
          Báo Tuổi Trẻ đưa ảnh chân dung ông choán gần trọn trang nhất và dành hẳn một trang trong cho nhân vật này diễn với những tuyên bố ngút trời. Thay một thằng Trưởng ban quản lý quèn của cái dự án sân bay Đà Nẵng (mà nói vậy chứ đã thay được đâu) mà báo chí đã bị “sốc”, đã thổi tung thành “hiện tượng” thì thật khôi hài, không chỉ với ông Thăng mà là sự khôi hài của chính làng báo. Báo chí, có vẻ như bế tắc trong việc đưa tin chính trị và trong thuật “dựng” vấn đề, sau một thời gian dài chán chê ngán ngẩm với sex, dâm và máu.
        

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 10 năm 2011

NGƯỜI NGHỆ NÓI TIẾNG CHI?


               Phạm Xuân Cần
 "Đồng bào nghe tôi nói rọ không?". Ai cụng nói nghe rọ.
1. Tôi đã đọc bài “Người Nghệ phải nói tiếng Nghệ” của nhà giáo Thái Hữu Thịnh đăng trên tạp chí VHNA số 74/2010, và sau đó là bài thảo luận lại của ông Nguyễn Phương Thoan đăng trên tạp chí VHNA số 77/2010. Bài của thầy Thịnh theo như ông Thoan nói là cực đoan thì khẳng định chắc nịch: người Nghệ phải nói tiếng Nghệ! Còn đọc xong bài của ông Thoan, tôi không khỏi băn khoăn và tự hỏi: Vậy thì theo ông Thoan, rốt cục người Nghệ phải, hay nên nói tiếng gì thì giữ gìn và phát huy được bản sắc Xứ Nghệ?
Tôi không hoàn toàn đồng tình với thầy Thịnh khi thầy ca ngợi cái hay cái đẹp của tiếng Nghệ đến mức ấy, nhưng tôi càng không thể nhất trí với ông Thoan, khi ông viện dẫn Bùi Dương Lịch để có ý nói theo chiều ngược lại. Theo tôi, về cái hay cái dở của tiếng Nghệ nên để giành lúc khác trao đổi. Trong câu hỏi Người Nghệ nói tiếng gì, thì không cần quan tâm đến việc là tiếng Nghệ hay dở đến đâu. Tiếng Nghệ dù có hay như thầy Thịnh nói, hoặc dở như ông Thoan bàn, thì người Nghệ vẫn phải và nên nói tiếng Nghệ. Giống như mình không thể chối bỏ Tổ Quốc, quê hương, hay cha mẹ mình. Điều này vừa là khoa học, vừa là chính trị, vừa là văn hoá! Nói khoa học, là vì tiếng nói cũng là một chỉ dấu quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất để phân biệt tộc người này với tộc người khác, người địa phương này với địa phương khác. Không “xưng danh” thì ai biết là ai! Nói văn hoá, là vì trong văn hoá, không có nền văn hoá nào cao hơn nền văn hoá nào. Mọi ngôn ngữ và tiếng nói là bình đẳng. Tiếng Việt được trên dưới 80 triệu người dùng, cũng giống như tiếng Ơ đu của một tộc người chỉ còn trên dưới 300 cá thể, trong đó chỉ có 6 người còn biết nói tiếng dân tộc mình. Về phương diện văn hoá, tiếng Nghệ có “trọc”, hay “trọ trẹ” cũng ngang hàng bình đẳng với tiếng Tràng An “thanh lịch”, hay tiếng Huế “thân thương”. Nói chính trị, là vì nói tiếng mẹ đẻ, tiếng quê hương cũng là để khẳng định sự tự tôn, tự hào về quê hương, xứ sở mình. 
Mụ ni nói tiếng Nghệ nầy.

Tuy nhiên, nói người Nghệ phải nói, hay nên nói, hay đơn giản là người Nghệ nói tiếng Nghệ không có nghĩa là trong mọi hoàn cảnh, văn cảnh người Nghệ cứ nói nguyên xi cái thổ âm cùng với tất cả mọi từ vựng của mình. Chỉ trừ một số ít người không có khả năng, hoặc ít giao tiếp, còn với đại đa số người Nghệ, nhất là lớp trẻ việc sử dụng tiếng Nghệ thế nào cho thích hợp không còn là chuyện khó. Kể cả trong trường hợp vì mưu sinh, một số người phải nói theo giọng khác, thì chúng ta cũng chỉ nên coi đó như là họ dùng...ngoại ngữ.

Đứa con lưu lạc trở về 3: HỊCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ



               Khoa học đại vương Trần Công Nghệ (Fa- Xu - Ca)
                (Lạy xin Đức Thánh Trần, cho con "nhại" theo Cụ)

Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người
Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.


Thật khác nào:
Đem cổ tích mà biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,
Ta nào có kém gì?

Thứ Năm, ngày 06 tháng 10 năm 2011

Đứa con lưu lạc trở về 2: TÚC CẦU DIỄN NGHĨA TÚC CẦU DIỄN NGHĨA


                                                                                     La Quán Nam (Fa - Xu- Ca)

Túc cầu dàn trận giữa thế gian
- Tuần trước ta với nhà ngươi bàn chuyện xăng dầu, mấy hôm nay thấy trên mạng truyền nhau bài “Công xăng tài diễn nghĩa”, nhại theo kiểu Tam Quốc hay lắm. Nhà ngươi văn hay chữ tốt thử viết một bài về...bóng đá xem sao! Nếu được ta sẽ gọi ngươi là La Quán...Nam!
- “Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng?”. Bẩm đại huynh, hiền đệ đã thảo sẵn thiên “Việt túc cầu diễn nghĩa” đây rồi. Xin mời đại huynh thưởng lãm!
- Khá khen cho nhà ngươi. Nào, đọc lên xem!
- “Hồi thứ nhất: Trước diễn đàn Bạch Đầu Công tung chưởng/ Sau hậu trường Vê ép ép (VFF) thí quân. Nước Việt năm thứ sáu mươi sáu, mùa thu, mưa ngâu sùi sụt...”
- Thôi, không cần đọc nguyên văn. Tóm tắt thôi.
Bạch Đầu Công tung chưởng
- Dạ bẩm, hồi này kể chuyện ông Bầu Kiên, phát biểu hôm Liên đoàn bóng đá (VFF) họp tổng kết mùa giải. (Ông này tóc trắng như Bạch Mao Tiên Cô, nên đệ gọi là Bạch Đầu Công cho nó...máu). Đó là tiếng sét giữa trời quang, là tràng đại bác từ chiến hạm Rạng Đông nã thẳng vào thành trì độc quyền, bảo thủ, trì trệ, tiêu cực của VFF. Đặc biệt ông còn thẳng thừng đưa ra tối hậu thư: nếu VFF không cải tổ, các đại gia sẽ ly khai Vi-lít, lập một giải đấu mới. Công luận và dư luận tức thì hưởng ứng rầm rầm. Có người còn nói: xem Vi-lít mười năm không bằng nghe Bầu Kiên “nổ” ba mươi phút. Một vài bác lãnh đạo VFF phản ứng dữ dội lắm, một số khác lại tỏ vẻ cao đạo “không thèm chấp”, nhưng xem ra đều rất lấy làm lo lắng. Sau đó, trước sức ép của dư luận, họ buộc phải thí quân bằng cách treo còi vĩnh viễn hai trọng tài có nhiều tai tiếng.

CÔNG - XĂNG - TÀI DIỄN NGHĨA


Đứa con lưu lạc trở về 1:
 CÔNG - XĂNG - TÀI DIỄN NGHĨA
                                                                                      La Quán Nam (Fa- Xu- Ca)
Hồi Một:
Tung hỏa mù Công - Xăng kêu lỗ
Giở hóa đơn Thượng thư Huệ nói lời
Lại nói, nước Việt, năm thứ sáu mươi sáu, mùa thu, bỗng dưng lạm phát tăng phi mã, vật giá leo thang, lòng người oán thán. Trong lúc vàng bạc, mỹ kim đua nhau tăng giá, thì chứng khoán liên tục xuống đỏ sàn. Thấy vậy, mấy nhà độc quyền là điện, xăng dầu cũng dâng sớ lên tể tướng cho tăng giá theo. Tình hình nguy cấp quá, tể tướng vội xuống chỉ cho Bộ Công và Bộ Tài cùng nhau hiến kế. Lĩnh ấn tiên phong, tân thượng thư Bộ Tài, họ Vương tên là Đình Huệ, tức tốc mở hội đàm cho mời Bộ Công và các đại gia đến tham vấn. Đoàn của Bộ Công do Phó Thượng thư dẫn đầu, đó là một vị mặt mũi phương phi, trán hói, mặt đỏ như ba quả táo chồng lên nhau. Hỏi ra mới biết, họ Nguyễn tên là Cẩm Tú, vốn là quý tử của một cựu Phó tể tướng đã hồi hưu. Oái ăm thay họ Nguyễn cũng là đồng hương An Tĩnh với Thượng thư họ Vương. Theo sau phó thượng thư Cẩm Tú là một đoàn lốc nhốc dăm bảy tên tùy tùng. Tiền hô hậu ủng theo họ là các đại gia độc quyền trong ngành xăng dầu. Ai nấy oai phong lẫm lẫm, khí thế như chực nuốt cả sao Đẩu, sao Ngưu.