Lời tác giả: Sau khi bài "Nhà văn Bá Dũng và câu chuyện "đàn ông loại một"" lên trang Tạp hóa Faxuca và một số tang mạng khác, tôi đã nhận được nhiều phản hồi tích cực. Mọi người thích cách viết tếu táo mà rất thật, cho rằng rất đúng với nhà văn Bá Dũng ngoài đời. Những người biết BD đều nói rằng qua bài viết đã hiểu và quý ông hơn, cảm phục ông là người dám sống thật, không dạo đức giả. Tuy nhiên, do bài viết thuộc thể loại "chân dung méo", nên có thể chưa khắc họa hết con người và văn chương của BD. Hôm nay tôi xin giới thiệu bài viết ngay khi nhà văn Bá Dũng từ trần, để bạn đọc hiểu rõ hơn về nhà văn tài hoa này.
Phạm Xuân Cần
Trận bóng đá Euro 2008 giữa đội tuyển Nga và Tây ban nha bị cắt ngang bởi một tin nhắn: “ Bác Bá Dũng mất rồi anh ạ”. Bàng hoàng, không tin nổi, tôi bốc máy gọi lại ngay cho người nhắn tin. Tin dữ được tái xác nhận. Tự nhiên tôi nghĩ ngay đến mấy gói cà phê vừa mua từ Buôn Ma thuột về làm quà cho anh chưa kịp chuyển. Và, ký ức về anh cứ trở lại trong tôi như những thước phim quay chậm. Thực ra tôi có nhiều lý do để nhớ về anh với nhiều tư cách, kể cả cái lý do và nhất là cái lý do anh chính là người tiền nhiệm của tôi ở vị trí phó bí thư thường trực thành uỷ Vinh. Thế nhưng, trước hết và sau cùng, tôi vẫn muốn chỉ là bạn đọc, người em và người bạn vong niên của anh, nhà văn Bá Dũng.
Trên dưới bốn mươi năm về trước, khi đang học cấp hai tôi đã đọc và thuộc bài thơ Đảm đang của anh. “Đâu phải bây giờ em mới đảm đang/ Nuôi mẹ, chăm con, thay chồng trăm chuyện…”. Tôi nhớ bài thơ này in trong một tuyển tập thơ Nghệ An chống Mỹ. Có lẽ anh đã lý giải được cội nguồn đức hy sinh chịu đựng, đảm đang chung thuỷ của người phụ nữ Việt Nam, coi đó như là một căn tính của người con gái Việt. Thời đó nhiều người thuộc và ngâm bài thơ này. Có lẽ nó cũng là giọng điệu thơ một thời. Hình như sau này Bá Dũng không làm thơ nữa, và tôi cũng ít khi nghe anh nói chuyện thơ. Nghiệp chính trị đã làm thui chột mất hồn thơ chăng? Tôi đã nghe đích danh nhà thơ Vương Trọng nói rằng nhà thơ và người bệnh tâm thần là hai người láng giềng thân thiết của nhau, và tỉnh thoảng họ vẫn viếng thăm nhau. Khi họ đến thăm nhau như vậy, chính là lúc ra… thơ. Vậy mà, anh thì tỉnh táo, khôn ngoan và lịch lãm như vậy? Nhưng rồi đến khi gặp truyện ký Nắng Sông Lam tôi mới thật sự mê anh. Tôi đã đọc một mạch, đúng hơn một hơi hết cả cuốn sách, rồi đọc lại. Câu chuyện một gia đình ba thế hệ ông, cha, con cùng hy sinh cho nghĩa lớn được anh kể thật xúc động và sinh động. Vượt lên trên tất cả lại là hình ảnh người mẹ, người bà, người vợ thủy chung, mà can trường như huyền thoại . Khi ấy chưa có danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thế mà sau này khi gặp danh hiệu này lúc nào tôi cũng nghĩ đến nhân vật bà mẹ trong cuốn truyện ký của anh. (Nhưng, cũng thật kỳ cục đoạn tôi nhớ nhất trong cuốn sánh này cho đến nay lại chính là cái đoạn anh tả cách nấu chè xanh). Có lần cách đây trên dưới mười năm tôi có hỏi anh về nguyên mẫu bà mẹ trong truyện, anh cho biết mẹ vẫn chưa được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cuốn sách lúc đó hấp dẫn tôi đến nỗi tôi đã viết hẳn một bài…phê bình về nó dài cả chục trang để… đọc. Thích thì viết, sướng thì viết, chứ ai thèm đăng bài phê bình của một cậu bé vừa học xong cấp ba. Mười mấy năm sau Bá Dũng lại “làm khổ” tôi một lần nữa vì cuốn tiểu thuyết tư liệu Chuyện trong khu vườn cấm. Hiện thực khốc liệt và bi hùng của một sự kiện lịch sử được anh tái hiện thật tài tình và hấp dẫn, thấm đẫm nhân văn. Tôi và những đồng nghiệp nghiên cứu về tôn giáo khi đó đã coi cuốn sách của anh như một cuốn sách gối đầu giường, không thể thiếu trong học tập và giảng dạy. Năm 1990 về quê công tác tôi được bác Lê Văn Khiêu, giám đốc Công an tỉnh đưa cho xem một tập kịch bản chuyển thể cuốn Chuyện trong khu vườn cấm của một nhà biên kịch nôi tiếng. Lúc này Điện ảnh Công an Nhân dân dự định dựng thành phim. Thế nhưng những lý do thế sự đã ngăn trở dự án này. Tôi tin anh Dũng rất buồn, sau này đôi lần anh nhắc lại với tôi về ý định làm phim từ cuốn tiểu thuyết này. Cuốn phim không được dựng có lẽ là một trong những điều bất đắc ý nhất trong cuộc đời anh. Tuy nhiên, tôi vẫn cho rằng anh là một trong ba nhà văn Việt Nam viết hay nhất về đề tài tôn giáo: Chu Văn, Nguyễn Khải và Bá Dũng. Chỉ có điều hai nhà văn kia viết tiểu thuyết hư cấu, còn anh viết tiểu thuyết tư liệu. Tôi biết anh đã giành cho cuốn sách này, đề tài này biết bao là tâm huyết và tâm sự. Có lần anh đã kể cho tôi nghe về mối tình của anh, khi đó là một cán bộ tuyên giáo với một nữ tu. Sức mạnh tình yêu đã đủ dể kéo cô nữ tu thoát tục, ra với cuộc đời, nhưng chưa đủ để vượt qua những thiên kiến một thời để đưa họ đến với nhau. Sau này tôi bắt gặp lại bóng dáng “người em xóm đạo” này trong một vài nhân vật của anh. Sau con người tài hoa và hào hoa Bá Dũng hẳn cũng còn nhiều u ẩn. Mối tình này, tâm sự này cũng là một góc khuất chăng? Những năm giữ cương vị lãnh đạo thành phố anh viết và in không nhiều, nhưng có lẽ là giai đoạn tích luỹ tư liệu và vốn sống rất quan trọng. Để rồi, chỉ mấy năm về hưu một loạt tác phẩm truyện ngắn, ký, tiểu thuyết, kịch bản phim, kịch bản sân khấu ào ạt ra đời. Trong đó ngồn ngộn tư liệu và hầm hập sức nóng của cuộc sống đương đại. Khi cuốn Muôn nẻo đường đời ra có người cho rằng về hưu anh viết hay hơn và…thẳng hơn. Tôi thì không nghĩ vậy, vì có thể nhân vô thập toàn, anh cũng còn những điều người đời không thích, nhưng trước sau như một anh không phải là người thích xu nịnh và xu thời. Anh cũng không phải kẻ hay “sợ khái và cứt khái”, như dân Nghệ mình vẫn nói.
Mỗi khi có sách anh vẫn thường tặng tôi, cũng như gọi điện dặn xem khi truyền hình phát sóng vở kịch của anh. Và, tôi thì cũng không ngại nhận xét thẳng thừng những sáng tác của anh, vì là người ngoại đạo văn chương tôi không sợ anh chê là “chuyên môn kém”. Anh cũng không bao giờ giận tôi vì những nhận xét không thuận tai ấy. Cũng như anh không bao giờ giận, thậm chí còn thích thú khi tôi là người sáng tác ra không biết bao nhiêu thơ tiếu lâm và giai thoại về cái “phong độ hào hoa” của anh. Mấy năm liền cho đến khi mất, mỗi buổi chiều anh lại quần soóc trắng, áo phông thả bộ đến cơ quan cũ chơi bóng chuyền. Anh chơi một thứ bóng chuyền mà chúng tôi vẫn gọi là “bóng chuyền dưỡng sinh”, nhưng có lẽ anh vui với bọn tôi là chính. Trên sân, không có một khoảng cách nào về tuổi tác hay chức vụ. Anh cũng hồn nhiên như lớp trẻ, cũng thề thốt, cũng ăn gian, cãi nhau chí choé. Xong thì vài cốc bia hơi, lại lững thững đi về. Ai cũng nghĩ anh thật thảnh thơi và thong dong, chỉ khi đọc những gì anh viết ra mới biết rằng hình như không phải thế.
Anh là một người nặng lòng với Vinh, kể cả với tư cách là một người viết. Sống lâu ở Vinh, lại có thói quen tìm tòi, tích luỹ anh giống như một cuốn từ điển sống về thành phố. Một bộ phim truyền hình đã chú thích dưới hình anh là “nhà Vinh học”. Mỗi khi bí cái gì tôi vẫn thường “tra” anh đầu tiên. Và, không bao giờ anh khiến tôi thất vọng. Khi thành phố xây dựng Nhà truyền thống anh đã trao tặng hàng chục cuốn sách viết về Vinh, cùng với nhiều tài liệu và hiện vật quý. Cách đây vài tuần tôi và anh gặp nhau tại sân bóng chuyền Thành uỷ. Nhân đó tôi cũng mở laptop khoe và hỏi anh về một số bức ảnh về Vinh hồi đầu thế kỷ hai mươi mà tôi vừa “lục” được trên mạng. Trước những hình ảnh của thành phố quê hương bảy, tám mươi năm trước, anh rất thích thú. ‘Rồi tôi đưa USB sang, ông cho tôi cop lại nhé”, anh nói. Anh cũng trao đổi với tôi về dự thảo cuốn sách “Văn hoá đô thị với thực tiễn Thành phố Vinh” của tôi, mà thành phố đang mời anh tham gia hội thảo. “Tôi đang viết bài hội thảo về cuốn sách Văn hoá đô thị của ông. Mang tiếng là nhà Vinh học mà không góp ý tử tế người ta cười cho”. “Dạ, bác cứ góp ý cho em thật thẳng thắn và thật kỹ, em sẽ hậu tạ”. Khi nói hai chữ “hậu tạ” là tôi đã nghĩ ngay đến cà phê, hôm sau tôi đi Buôn ma thuột mà. Trước đây cũng vậy có ai biếu cà phê tôi cũng để giành cho anh. Anh thích cà phê và pha cà phê, pha coktai rất có nghề.
Vậy mà hôm nay tôi đang kỳ cạch ghép tên một số tác phẩm của anh mà tôi thích thành câu đối viếng anh:
Đã bừng lên rồi Nắng Sông Lam, sao người hãy còn Nỗi đau muôn thuở?
Vừa thám hiểm xong Khu vườn cấm, chắc bác vội đi Muôn nẻo đường đời…
Tôi đặt gói cà phê lên bàn thờ anh. Trên bàn thờ, trong di ảnh vẫn là anh, tài hoa và hào hoa: Bá Dũng.