Thứ năm, ngày 24 tháng năm năm 2012

NỮ HOÀNG CŨNG KHÓC


                                                                            Phạm Xuân Cần
Trên thị trường thế giới, nhất là ở Châu Âu, dứa, loại quả của miền nhiệt đới, được coi là nữ hoàng của các loài quả. Không chỉ thuyết phục bằng dinh dưỡng, dứa đặc biệt được ưa chuộng bởi khả năng làm đẹp làn da cho phái đẹp.
 Vào đầu những năm 2000, Nghệ An đã sớm xác định dứa là một trong những cây mũi nhọn cần tập trung ưu tiên phát triển. Với sự ra đời của Nhà máy nước dứa cô đặc Quỳnh Lưu, cây dứa như đã có một bà đỡ để mau chóng tăng nhanh cả diện tích, năng suất và sản lượng. Tỉnh đã sớm xây dựng quy hoạch, đề án, đồng thời có những chính sách khá đồng bộ để phát triển vùng nguyên liệu dứa. Trên dưới tám mươi tỷ đồng đã đầu tư để xây dựng giao thông cho vùng nguyên liệu, hàng chục tỷ đồng khác cũng được ngân sách tỉnh và các huyện chi ra cho các chính sách hỗ trợ về giống, kỹ thuật, phân bón, bảo vệ thực vật, thị trường…Nhiều dự án về khuyến nông, khoa học cũng đã được đầu tư để chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, rải vụ dứa…cho nông dân. Năm 2004 tỉnh đã đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ có 10.000 héc ta dứa. Trong bối cảnh đầy lạc quan khi đó, thiết tưởng mục tiêu này cũng không hẳn đã quá xa vời. Có thể nói rằng ở tỉnh ta, ít có cây trồng nào giành được sự ưu ái và đầu tư đồng bộ, thỏa đáng như cây dứa. Mọi điều kiện cần và đủ đều đã đảm bảo, “nữ hoàng” chỉ chờ ngày đăng quang.

Nhưng, ngay từ năm 2004 đến nay chưa bao giờ cây dứa đáp ứng được kỳ vọng của chính quyền, doanh nghiệp và bà con nông dân tỉnh nhà. Năm 2005 là năm cao nhất cũng chỉ đạt 61% diện tích dứa đứng, 25% diện tích dứa thu hoạch, 54% năng suất và 16,22% sản lượng. Năm 2007, tỉnh ban hành đề án mới về phát triển cây dứa, mục tiêu theo phương án cao nhất đã rút xuống còn 4000 héc ta. Thế nhưng, đó cũng là một cái đích quá xa vời, khi diện tích trồng dứa không ngừng giảm xuống hiện nay.
Và, vụ dứa năm nay được coi là được mùa, nhưng lại rơi vào vòng quay ác nghiệt: được mùa – rớt giá. Đã thế mối quan hệ vốn không mấy mặn nồng giữa doanh nghiệp và nông dân, năm nay lại tái diễn thảm cảnh cơm không lành canh không ngọt, khi doanh nghiệp liên tục đưa ra các chính sách thu mua được cho là đánh đố nông dân. Những gì đang diễn ra trong vụ dứa năm nay, không khác gì hơn là một tín hiệu buồn cho tương lai của vùng nguyên liệu dứa. Nữ hoàng đang khóc.
Câu chuyện của “nữ hoàng” dứa xem ra cũng là câu chuyện của cây sắn, cây mía, cây khoai lang, của con lợn, con ếch…Câu chuyện của sản xuất và tiêu thụ, của vùng nguyên liệu và sản phẩm, mà thực chất đó là câu chuyện của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân. Từ hơn mười năm nay, người ta đã nói nhiều, viết nhiều về mối quan hệ “bốn nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà khoa học), thậm chí có người còn yêu cầu “nhà thứ năm” vào cuộc đó là “nhà băng” (ngân hàng). Thiết nghĩ đó là những ý tưởng kinh tế rất tuyệt về…chính trị và đạo lý. Gần đây, với dự án Cạnh tranh nông nghiệp do Ngân hàng Thế giới tài trợ, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân có cơ hội để trở thành một thiết chế kinh tế mới, đó là liên minh sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân. Thế nhưng dự án này gần như cũng chỉ đang là những thử nghiệm quy mô nhỏ. Sau mười năm, mối liên kết bốn hay năm nhà vẫn chỉ đang là những hô hào chính trị, những vận động thiện chí kiểu phong trào. Đặc biệt, trong đó mối quan hệ then chốt giữa doanh nghiệp và nông dân cũng chỉ dừng lại trong khuôn khổ của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, một pháp quy về việc doanh nghiệp tiêu thụ nông sản cho nông dân. Trong lúc đó, mối quan hệ này thực sự sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều. Khoảng trống bao la về pháp lý đó chính là nguyên nhân sâu xa của việc không đảm bảo sự ràng buộc cần thiết về trách nhiệm pháp lý giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất và bao tiêu sản phẩm. Năm nay nông dân “tố” doanh nghiệp đặt chính sách thu mua đánh đố, nhưng cũng không phải không có lúc doanh nghiệp phàn nàn nông dân hám lợi trước mắt mà phá hợp đồng, hoặc tùy tiện không đảm bảo tiêu chuẩn, số lượng và chất lượng nguyên liệu…Nếu tình trạng này cứ tái diễn thì nguy cơ giảm sút, dẫn đến xóa sổ các vùng nguyên liệu sẽ không còn là cảnh báo.
Hô hào, vận động, kêu gọi là cần thiết. Thế nhưng, câu chuyện kinh tế phải lấy quy luật kinh tế làm đầu. Đã đến lúc phải xây dựng các thiết chế kinh tế bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân, dựa trên những khung khổ pháp lý phù hợp. Chừng nào mối quan hệ sinh tử giữa doanh nghiệp và nông dân không được thể chế hóa, chừng nào mối quan hệ đó chỉ vận hành bằng cơ chế thiện chí, thì những nghịch cảnh như vừa qua lại tái diễn với nhiều phiên bản mới, với nhiều đối tượng khác, chứ không riêng gì cây dứa.
Và, khi đó ngay cả “nữ hoàng” cũng… khóc!

3 nhận xét:

  1. Ai khóc mặc kệ, các bác làm dự án vẫn cười!

    Trả lờiXóa
  2. Người nông dân lúc nào cũng khổ. Họ còn khổ dến bao giờ khi luôn luôn phải tự mình "vượt cạn" ?

    Trả lờiXóa
  3. Đau xot cho người nông dân. Đất không còn thì "vượt cạn" bằng cách nào hả bạn NS? Sống chết mặc bay,
    tiền quan đầy túi!
    Quan giầu như núi,
    Dân xuống vực sâu!

    Trả lờiXóa