Phạm Xuân Cần
Sự khác biệt về thế hệ là điều tất yếu giữa ông bà, cha mẹ và con cái. Thế nhưng, trong gia đình đô thị ở ta sự khác biệt này kéo theo sự khác biệt về văn hoá. Đa phần ông bà và kể cả cha mẹ đều sinh ra và trưởng thành ở nông thôn trong điều kiện chiến tranh và bao cấp, dấu ấn văn hoá làng xã còn in đậm trong nếp nghĩ, nếp sống. Trong lúc đó thế hệ con cháu lại sinh ra và trưởng thành ở đô thị, trong điều kiện hoà bình và hội nhập. Quan niệm về giá trị và định hướng giá trị của các thế hệ này có rất nhiều điểm khác biệt. Ngăn ngừa và xử lý những xung đột gia đình phát sinh từ sự khác biệt văn hóa này là vấn đề rất mới và cũng rất khó.
Về nguyên tắc, chỉ có thể ngăn ngừa được trên cơ sở thật sự tôn trọng nhau. Cần thường xuyên trao đổi, để tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các thế hệ. Con cháu phải biết kính trọng ông bà cha mẹ. Ngược lại, ông bà cha mẹ cũng phải chịu khó tìm hiểu và tôn trọng những suy nghĩ và việc làm của con cháu khác mình, tránh sự áp đặt khuôn mẫu và kinh nghiệm đã qua của mình cho lớp trẻ hiện đại. Đặc biệt hiện nay nhiều gia đình đô thị, kể cả những gia đình thành đạt và nhất là các gia đình thành đạt đang phải đối mặt với vấn đề phụng dưỡng ông bà già như thế nào. Rất nhiều gia đình đón ông bà từ quê ra phố, mọi nhu cầu tưởng như đầy đủ, nhưng vẫn không giữ nổi chân các cụ. Nhiều gia đình phải chấp nhận thất bại, không có cách gì giữ chân các cụ lại thành phố. Thật sự đây là một thực trạng khó giải quyết, vì không thể giải quyết được tận gốc nguyên nhân, một nguyên nhân về tâm lý và văn hoá. Đối với người già ra phố, nói chung nhu cầu về vật chất, về dinh dưỡng, về chăm sóc y tế và tình cảm hầu như gia đình nào cũng có thể đáp ứng đủ. Cái thiếu của các cụ chính là thiếu một không gian văn hoá đã gắn bó với các cụ gần suốt cuộc đời. Đặc biệt, các cụ thiếu bạn già, là thứ mà con cháu không thể nào bù đắp, thay thế được. Càng già, càng đầy đủ về vật chất thì những nhu cầu này càng cao. Không có cách nào khác, con cháu muốn giữ chân các cụ thì phải biết thông cảm và tìm cách đáp ứng những nhu cầu đó, như định kỳ đưa các cụ về thăm quê, tìm những người già gần trong khối xóm đến tâm sự, nhắc nhở các cháu hỏi han chuyện trò với ông bà. Tạo điều kiện cho các cụ tham gia hoạt động với Hội người cao tuổi ở khối phố, nhất là mừng thọ đầu xuân, thăm người ốm, viếng người qua đời. Đặc biệt không bao giờ, hoặc hạn chế tranh luận với các cụ, luôn luôn tôn trọng, coi ý kiến của các cụ là chân lý, dù rằng chỉ để tham khảo.
Phần lớn các gia đình đô thị hiện nay là gia đình đời đầu ở đô thị. Cha mẹ phần lớn đều sinh ra và trưởng thành ở nông thôn. Do đó nhiều người chưa hiểu những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở thành phố sẽ như thế nào. Đa phần đều muốn áp đặt hình mẫu và kinh nghiệm của bản thân mình ở nông thôn ngày xưa cho việc giáo dục con cái. Dẫn đến tình trạng hoặc là ràng buộc thái quá, hoặc là buông cho xã hội. Khi con đến tuổi trưởng thành (từ 13 đến 17, 18 tuổi) nhiều ông bố, bà mẹ kiểm soát con thái quá đến mức đứa trẻ thấy bị xúc phạm, không được tin cậy. Nhiều đứa không có không gian riêng, không có bạn bè riêng, mọi quan hệ đều bị giám sát. Sự đối phó lại tình trạng này đã đẻ ra nhiều hậu quả tai hại.
Bố mẹ nên biết rằng, điều kiện vật chất đầy đủ hơn, lại sống trong môi trường đô thị, đứa trẻ trưởng thành nhanh hơn về thể chất, về tâm sinh lý, khác hẳn thời bố mẹ chúng sống thiếu thốn và khép kín ở nông thôn. Nếu không hiểu điều đó, bố mẹ sẽ không hiểu nhu cầu của con để cảm thông, chia sẻ và dẫn dắt. Lời khuyên chung với các bậc làm cha làm mẹ là: dân chủ hơn và tôn trọng quyền cá nhân của con cái hơn. Kể cả trong điều kiện chật chội, vẫn nên có không gian riêng cho trẻ, nhất là bé gái. Khách của con, bố mẹ chỉ chào xã giao cho biết, còn thì nên để cho chúng được tự do trò chuyện và học hành với nhau. Cũng nên tính toán để cho con một số tiền hợp lý và hướng dẫn cách chi tiêu. Nên tạo điều kiện cho con tham gia các hoạt động tập thể và buộc đứa trẻ phải lao động, trước hết là việc nhà, sau đó là các buổi lao động ở trường, rồi các hoạt động lao động cùng khối xóm. Qua lao động để trau dồi tình cảm, biết yêu quý sức lao động, đặc biệt để khắc phục sự vị kỷ, vốn là một căn bệnh tâm lý của trẻ con đô thị.
Trong điều kiện đô thị do tốc độ sống cao, quan hệ xã hội rộng, vợ chồng lại ít khi cùng công tác và làm việc cùng nhau, do đó khả năng phát sinh mâu thuẫn và tích tụ nguy cơ xung đột vợ chồng cao hơn ở nông thôn. Điều này có thể thấy rõ ở tỷ lệ ly hôn ở đô thị Việt Nam hiện nay khá cao, từ 30 đến 41%. Như vậy, trung bình ba cặp vợ chồng kết hôn thì có hơn một cặp ly hôn. Người ta cho rằng trong đời sống đô thị có ba nguyên nhân chủ yếu dẫn tới ly hôn, theo thứ tự là: ngoại tình, bạo hành gia đình và xung đột văn hoá. Trong đó rất đáng chú ý là nguyên nhân về xung đột văn hoá. Đây gần như là một đặc điểm riêng có của gia đình đô thị. Xung đột văn hoá trong đời sống vợ chồng gia đình đô thị thường bắt nguồn từ quan niệm sống và cách ứng xử đối với những tình huống cụ thể trong cuộc sống. Nhiều nhà tâm lý đã chỉ ra rằng tuyệt đại bộ phận các cuộc “khẩu chiến” giữa vợ chồng không có nguyên nhân tranh luận về chân lý, hay lợi ích, mà chủ yếu là do ứng xử. Họ thường to tiếng với nhau vì những chuyện không đâu và đôi khi không hiểu vì sao mình lại cãi nhau. Thế nhưng hậu quả thì lại không hề đơn giản. Thực trạng đáng báo động về tình trạng ly hôn đang thật sự là điều mà tất cả chúng ta phải suy nghĩ. Không có cách nào khác là phải xây dựng gia đình trên cơ sở tình yêu thật sự. Tuy nhiên, không phải mọi cuộc hôn nhân vì tình yêu đều bền vững, nó có thể đổ vỡ vì những nguyên nhân mà trước đó những người trong cuộc không bao giờ ngờ tới, trong đó có nguyên nhân về quan niệm sống và kỹ năng sống. Vì vậy trong cuộc sống gia đình, vợ chồng cần phải xây dựng một quan niệm sống trên cơ sở những điểm tương đồng cơ bản là tình yêu và niềm tin. Cần phải tôn trọng sự khác biệt của nhau về các khía cạnh có tính chất văn hoá. Từ đó mỗi người hiểu, chia sẻ và chịu đựng lẫn nhau, ứng xử với nhau trên cơ sở tình cảm và văn hoá. Khi có mâu thuẫn phát sinh thì phải biết dung hoà và điều chỉnh. Đặc biệt, trong các cuộc tranh luận, hoặc “khẩu chiến” phải biết khoanh giới hạn vấn đề, tuyệt đối không được suy diễn. Thực tế cho thấy căn bệnh suy diễn đã đẩy không biết bao nhiêu cuộc hôn nhân đến bên bờ của sự đổ vỡ hoặc gây những tổn thương khó lòng hàn gắn. Dù vì lý do cụ thể nào thì nguyên nhân sâu xa của ly hôn vẫn là tình yêu đã chết. Thế nhưng, ngay cả khi tình yêu đã chết nhiều cuộc hôn nhân vẫn không tan vỡ. Trong trường hợp đó người ta đã nghĩ đến điều lớn hơn và duy nhất là chung còn lại giữa hai người. Đó là những đứa con.
(Bài đăng báo Lao Động Nghệ An)
(Bài đăng báo Lao Động Nghệ An)
Đây là một bài nghiên cứu hay, đương nhiên chỉ áp dụng được vào thực tiễn, hoặc trên giảng đường, nghĩa là những lúc tỉnh táo và sáng suốt nhất. Còn khi đã "xung nộ khí" thì bầu trời chưa chắc đã bằng...đồng xu. Tôi đã được nghe kể chuyện rằng, có cặp vợ chồng ra tòa ly hôn, đến phần chia tài sản xong xuôi, còn lại một đôi dép đi chung ở phòng ngủ những ngày còn mặn nồng. Một đôi thì chia răng? Hai người kiên quyết:Vẫn phải chia. Một người một chiếc. Người chồng ném vào xe rác đi qua. Người vợ chờ chiếc xe tải hạng nặng chạy tới, ném ra đường, chiếc dép bị nghiền nát.Hả hê. Kinh hoàng quá khi con người ko còn tình cảm với nhau nữa.
Trả lờiXóaTác giả ngồi một nơi rồi đoán, không có tư liệu, số liệu gì, sao lại nịnh nhau là "nghiên cứu hay". Khen nhau như thế là bằng mười hại nhau rồi, các cụ ạ. Khoa học VIệt Nam là thế đấy, chỉ đoán mò, nói suông, chẳng có một xu giá trị, in chỉ tốn giấy. Nói cụ Cần đừng giận, chứ "nghiên cứu" mà như bài này của cụ, thì bở ăn quá.
Trả lờiXóaBaì viết đúng, sai, hay, dở bạn PXQ (chắc là tên giả) có thể bàn. Tuy nhiên nói người viết Tác giả ngồi một nơi rồi đoán, không có tư liệu, số liệu gì, thì chính bạn đang "đoán" đấy. Tôi viết bài này với sự trải nghiệm từ chính cuộc sống gia đình ba thế hệ của tôi gần ba mươi năm qua. Trong chuyện viết lách chẳng có gì là "bở ăn" như bạn nghĩ đâu. Bạn cứ viết bài tranh luận, phê phán những luận điểm của tôi trong bài viết. Tôi sẵn sàng đăng chỉ với một điều kiện bạn cho tôi một cái địa chỉ có thể kiểm chứng, chứ không phải là tên giả. Nói thêm với bạn Phạm Xuân Quắc là một cái tên đáng kính, bạn đừng lạm dụng!
XóaBác Fa ko nên đăng những CM kiểu "Phạm Xuân Quắc" như thế này. Đây là kẻ khiêu khích. Cỡ này thì suốt đời không viết nổi bài báo chứ tài ba gì.
Trả lờiXóaEm nghe Nguyễn Bính có câu:
Trả lờiXóa"Những phường bất nghĩa xin đừng đến
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu!"
Hay là bác treo câu này lên, để những phường bất nghĩa kiểu "PXQ" đừng đến?
Qủa là những năm 1940, khi ở Rạch Giá Nguyễn Bính có viết câu này treo trước cửa. Tuy nhiên, bậc tài danh như NB làm thế thì được, mình làm thế xem ra cao ngạo quá, có vẻ không "dân vận" lắm.
XóaTôi nghĩ bạn Phạm Xuân Quắc(giả) chắc cũng đã tranh cướp, hoặc nhờ "lịnh lọt" mà có chức Tổng biên tập(đoán thế) dễ ăn," bở ăn" quá nên nghĩ chắc ai cũng" nghiên cứu" như mình? Dù sao thì tôi trân trọng thái độ của cụ Cần là "Tổng biên tập" Tạp hóa Fa xu ca, ai nhận xét thế nào cụ cũng cho đăng đàng hoàng để tranh luận "dân chủ, công khai". Gía như bạn Phạm Xuân Quắc(giả) ở vị trí của cụ Cần thì sẽ "xung nộ khí" khi ý kiến của bạn đọc ko "lịnh lọt", và sẽ " bừng bừng" cho vào sọt rác. Tôi "đoán" như thế về bạn P.X.quắc khi đọc qua văn.
Trả lờiXóaÔ hô, đọc nhận xét của Phạm xuân Quắc, tôi cũng" đoán" là bạn chưa đọc hết bài của cụ Cần đã" xung đột" rồi. Vì sao vậy? Vì cụ Cần chưa biết hết nội tình gia đình mình, mà sao viết như " y chang" vậy? Lại có kẻ Nặc danh ngang nhiên khen " bài nghiên cứu hay".Tức quá, tức quá đi mất, Chí Phèo thì chết mất rồi, mảnh chai thì tìm ở đường phố Văn minh cũng khó, thế thì phải" khỏa lấp" cụ đi bằng cách lu loa, bằng cách " tên giả", dùng tên thật tranh luận thì bẽ mặt vì ko "thắng" được lý luận với cụ Cần. Hu hu, chia buồn, chia buồn với bạn Quắc nhé.
Trả lờiXóaTôi"đoán" biết Phạm Xuân Quắc đã từng ngửa mặt lên trời than rằng: "Trời đã sing Quắc sao còn sinh Cần"
Trả lờiXóaBạn Quắc có tư tường" làm ăn" với bất cứ việc gì nhỉ?
Trả lờiXóa