Faxuca: Mấy hôm nay sau khi đăng bài "Đại Ca" viết sách dạy ai, tôi nhận được rất nhiều phản hồi và ý kiến trực tiếp. Tất thảy đều đồng thanh lên án, hoặc phê phán ông giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng. Tự dưng tôi càng nhớ đến ông, Thiếu tướng Lê Văn Khiêu, giám đốc CA Nghệ Tĩnh, Nghệ An trước đây. Tôi đã nhiều lần nói với bạn bè rằng: Ở Nghệ An có thể nhiều người dân không ưa gì Công An, nhưng giám đốc Công an tỉnh như Ông Lê Văn Khiêu, Ông Trần Phồn, Ông Phan Đình Trạc thì người ta nể trọng vì tính nhân văn. Rất tiếc, người kế nhiệm sau đó đã đánh mất đi hình ảnh này. Mười năm nay, sau khi ông Khiêu mất, mỗi năm bốn năm lần đến nghĩa trang thăm cha mẹ, tôi đều thắp hương trước phần mộ ông, vì phần mộ ông nằm ngay bên cạnh phần mộ mẹ tôi. Bác Khiêu ơi! "Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?". Lại sắp đến ngày giỗ của bác rồi, cho phép tôi đăng lại bài báo viết ngay đêm rằm tháng giêng năm 2002, sau khi thăm bác về và biết bác sắp đi...
Vị tướng nhân từ
Phạm Xuân Cần
Năm 1990, từ trường Đại học
An ninh, tôi về Công an Nghệ Tĩnh liên hệ xin chuyển công tác. Lẽ thường với
những công việc hệ trọng này, người ta phải "thăm ván" mới "bán
thuyền" cho chắc. Nhưng tôi thì hơi khác. Sau khi được hiệu trưởng ký vào
đơn cho đi, tôi mới vác giấy giới thiệu về quê. Và, người đầu tiên tôi gặp là
ông, Thiếu tướng Lê Văn Khiêu, giám đốc Công an Nghệ Tĩnh. Ông tiếp tôi trong
những phút giải lao giữa cuộc họp và tỏ ra ngạc nhiên khi được biết tôi xin
chuyển công tác về quê.
- Tại sao là giáo
viên đại học ở Hà Nội thầy lại xin về ? Lý do gì thầy nói xem nào ? Bố mẹ già à
? Ngoài 80 à ? Như vậy là song thọ. Bên ngoại cũng như vậy à? Nội ngoại song
toàn, tuyệt ! Hai con còn nhỏ à ? Con gái cả à? Ồ, không phải con gái đầu, con
trai sau, ruộng sâu trâu nái... Hoàn cảnh gia đình ấy thì tuyệt rồi. Nhất thầy
rồi còn gì ! Chúc mừng thầy nhé!
Ông
cứ tưng tửng như vậy, làm tôi phát hoảng, lúng túng không biết trình bày gì
thêm. Không đợi cho tôi quá hoang mang, ông ôn tồn nói: Nói vui vậy thôi, nếu
không có điều kiện để ổn định gia đình ở Hà Nội, thì thầy xin về cũng phải. Nhưng
mà thế này: việc tiếp nhận cán bộ phải theo nguyên tắc tập thể, hơn nữa biên
chế Công an Tỉnh ( dù có chia tỉnh) vẫn đang thừa, mà chả lẽ chỉ một mình thầy
cũng tổ chức một cuộc họp Ban giám đốc xét, cho nên thầy chịu khó đi gặp các
anh phó giám đốc khác xin ý kiến vào đơn. Sau đó gửi lại phòng tổ chức, rồi tôi
xem xét. Được lời như cởi tấm lòng, tôi bèn đưa đơn cho ông: “Vậy thì thủ trưởng
cho em mấy chữ”. "Ấy, ai lại thế. Giám đốc mà viết vào đây đồng ý tiếp
nhận thì các phó giám đốc còn dám nói gì nữa. Thầy cứ chịu khó đi gặp các anh
ấy trước". Tuy rất thuận, nhưng cũng phải một tuần sau, tôi mới nộp được
cái đơn đầy các chữ ký của bốn phó giám đốc cho phòng tổ chức. Ông trưởng phòng
tổ chức nhìn tôi không chút thông cảm: "anh là Phạm Xuân Cần à? Hôm nay
mới vinh hạnh được gặp anh mà tôi đã bị giám đốc phê bình làm thủ tục chậm. Anh
cậy thế quen biết, rồi lấy quyền trên ép chúng tôi phải không ?" Lúc ấy,
tôi mới biết té ra mình đã làm ngược quy trình. Lẽ ra phải qua phòng tổ chức
trước. Thôi đành biến báo mấy câu cho ông thông cảm. Rồi các thủ tục cũng được
giải quyết. Chưa đầy một tháng sau tôi đã về nhận công tác trong Công an Nghệ
Tĩnh. Có lẽ đó là kỷ niệm đầu tiên, để lại dấu ấn trong tôi về một con người
thật sắc sảo, thật dí dỏm, thân tình.
Là
cán bộ tham mưu, dưới quyền ông dù chỉ trong thời gian ngắn, tôi càng hiểu ông,
càng trân trọng và cảm phục tài đức của ông.
Với
ông, tôi mới hiểu thế nào là một người lãnh đạo có uy. Ông có tác phong thật
khoan thai, đĩnh đạc, không bao giờ gợi cho ta cảm giác công việc, giấy tờ ngập
đầu. ông biết tin và mạnh dạn giao việc cho các phụ tá, nhưng không bao giờ
quên mất chức trách của mình. Ông biết cách thâu tóm công việc, như người ta
cầm lấy cuống để nhấc lên cả một buồng cau nặng trĩu. Đặc biệt, tôi chưa bao
giờ thấy ông nổi nóng, cáu gắt với ai (chao ôi, điều này với nhiều người nhất
là lãnh đạo mới khó làm sao!). Có lần ông nói với tôi rằng: cả đời ông, kể cả
khi phải xét hỏi những đối tượng cứng đầu nhất, ông cũng chưa bao giờ phải to
tiếng. Vậy mà, người nghe chỉ có "tâm phục, khẩu phục". Trong nghiệp
vụ, ông có tư duy chiến lược. Biết nhìn xa trông rộng. Những tư tưởng nghiệp
vụ, những mạng lưới nhân viên mà ông và những người cùng thời để lại, vẫn là
những hình mẫu không chỉ cho lực lượng công an Nghệ Tĩnh trước đây, Nghệ An
hiện nay. Mặt khác, ông cũng là vị chỉ huy đầy mưu mẹo, xử lý các tình huống
nghiệp vụ hết sức sắc sảo và biến hoá. Không thể nói cụ thể thêm những điều
này, có lẽ quân hàm ấp tướng an ninh nhân dân gắn trên vai áo ông đã nói lên
điều đó.
Ông
cũng nổi tiếng là nhà tổ chức giỏi, biết nhìn người và sắp xếp con người phù
hợp. Có người tính rằng ông đã đào tạo không phải chỉ 1 người kế nhiệm, mà là
3, 4 giám đốc, 5,6 phó giám đốc Công an tỉnh cho Nghệ An và các tỉnh bạn. Kể
cũng không sai. Ngoài cái tài, theo tôi ông còn là người biết tin và dám tin
người. Với tôi, cũng được ông dành cho cái đặc ân ấy. Mãi cách đây ba, bốn năm,
ông mới cho tôi biết rằng: trường hợp đề bạt tôi là một ngoại lệ. Khi dự kiến
như vậy, phòng tổ chức không đồng ý vì tôi không có trong quy hoạch. Nhưng ông
lập luận: "Người ta mới về 8 tháng thì làm sao có quy hoạch được. Không
quy hoạch ở đây, nhưng quy hoạch chỗ khác. Đủ tiêu chuẩn thì đề bạt". Ông
còn nói: "Tôi có 3 con là học trò của anh, chúng nó nói, bạn bè chúng nó
rồi học sinh ở ngoài trường về đều đánh giá anh rất tốt. Tôi tin lắm"
Trong
đời thường, ông là con người nhân hậu, dù vẻ ngoài có khi không tỏ ra điều đó.
Ông thuỷ chung với đồng chí, bạn bè, với những người đã công tác với mình. Vườn
nhà ông ở Quỳnh Hậu có hàng chục loại cây. Mỗi gốc cây là một kỷ niệm với một
con người và ông đều có một bài thơ cho nó. Phải là con người quý trọng ân
nghĩa lắm mới nâng niu kỷ niệm như vậy. Trong đơn vị tôi hồi đó có gia đình anh
Trạch khó khăn lắm, mình anh phải nuôi vợ bị tai nạn bại liệt và ba đứa con.
Ông thường xuyên nhắc nhở đơn vị phải quan tâm giúp đỡ Khi đương chức tết năm
nào ông cũng đến thăm. Nếu quá bận ông lại nhắc bà đến. Ông đặc biệt trân trọng
công lao tình cảm của những người đã cộng tác bí mật với mình mà chiến công và
vinh quang của họ không bao giờ lộ sáng. Cả khi đã về hưu, ông vẫn thường nhắc
nhở anh em phải quan tâm giúp đỡ gia đình họ. Tôi biết một số con cháu của
những người này coi ông như cha, người cha thay thế người cha đẻ đã lặng lẽ giấu
vinh quang mình. Cái gì đã tạo nên những mối tình bền chặt ấy? Chắc không chỉ
là tài năng nghiệp vụ.
Ông
thích thơ và vẫn thường làm thơ. Công bằng mà nói không thể khen thơ ông hay
được. Chắc ông hiểu như vậy, ông chỉ gọi vui là "thơ vườn". "Vườn
thơ ấm áp nghĩa tình" là tên một tập thơ của ông. Khi đương chức, báo An
ninh Nghệ Tĩnh cũng như báo Công an Nghệ An chưa bao giờ đăng thơ ông, và ông
cũng không đưa, không làm họ phải khó xử. Khi về hưu, ông mới tập hợp lại, cho
in thành sách, chủ yếu để tặng bạn bè và giáo dục con cháu. Nhưng điều tôi muốn
nói là đằng trong, đằng sau những câu văn vần ấy là cả một tấm lòng nhân hậu.
Ông muốn gửi gắm tình cảm của ông với những người cộng sự, với người lái xe
riêng, với người cộng tác bí mật, đặc biệt với gia đình, người thân. Người ông,
người cha nhân từ ấy đã kỳ cạch ghép vần, sao cho tên của hàng chục con cháu
dâu rể nội ngoại đều có trong một bài thơ về gia đình ông. Thêm một điều mà tôi
càng khâm phục, noi theo ông mà chưa được. Có lần, lúc thật thân tình tôi mới
mạnh dạn nói với ông rằng: “Quân hàm cấp tướng, chức vụ giám đốc tuy khó nhưng
bọn cháu có thể phấn đấu đạt được, nhưngtổ chức được một gia đình như bác thì
quả thật không mấy ai có thể làm nổi”. Không ít người khi đạt đến bậc thang cao
trên con đường danh vọng, thì cũng là lúc phải trả giá cho bi kịch gia đình.
Với ông, bên cạnh sự nghiệp thì gia đình cũng là một thành công lớn. Trong cái
đại gia đình đó, con cháu, dâu rể, nội ngoại đều đã phương trưởng. Dù là cán bộ
lãnh đạo, sỹ quan công an, bác sỹ, giáo viên, hoạ sỹ, nhà doanh nghiệp…, họ đều
biết quý trọng tình nghĩa, sống thuỷ chung với mọi người. “Tích thiện dư
khương” là câu ông thường giảng giải, khuyên răn con cháu.
 |
| Thiếu tướng Lê Văn Khiêu và gia đình |
Ngoài
ra, ông còn là người dí dỏm, có biệt tài ứng đối, nhất là sử dụng cách nói lái.
Năm 1991, ông làm mấy bài thơ xuân và gọi là “thơ Tân Mùi”, nhưng giải thích
thơ Tân Mùi là thơ “tui mần”. Tôi nhớ trong một cuộc gặp mặt những cán bộ lãnh
đạo mới được đề bạt, lần ấy có anh Nhiếp nguyên trước đây cũng là cán bộ lãnh
đạo, nhưng có khuyết điểm bị huyền chức, nay được đề bạt lại. Trong lời phát
biểu của mình, anh Nhiếp cám ơn Ban giám đốc đã cho anh được tái sinh. Ông liền
cười và nói ngay: “Anh được tái sinh, nhưng đừng tưởng Ban Giám đốc “tính sai”
đâu nhé. Trước đây, anh có khuyết điểm phải giáng chức, sau mấy năm anh phấn
đấu tốt, nay xứng đáng thì đề bạt lại. Trước cũng như nay chúng tôi không tính
sai cho anh đâu”.
Tôi
cũng bày tỏ một cảm nhận của riêng tôi rằng: từ ngày về hưu, mặc dù vẫn được
những người đưong chức hết sức nể trọng, nhưng ông hình như không muốn sự có
mặt của mình có thể làm cho anh em khó xử. Không ai nghe được ở ông một lời
trách móc, phê phán những người đương nhiệm, như một số người vẫn làm vậy khi
đã nghỉ hưu. Phải chăng, vì ông hiểu
rằng chính những người đương nhiệm cũng là những người mà ông đã góp phần đào
tạo và tin tưởng khi giao trọng trách cho họ. Phê phán họ có khác gì tự nói xấu
mình. Nếu khi còn đương chức, thỉnh thoảng ông vẫn nói dài, thì từ khi về hưu
trên nhiều diễn đàn, tôi thấy ông nói rất ngắn. Đặc biệt không bao giờ nghe ở
ông giọng răn dạy hay ban ơn theo kiểu một vị cao tăng đắc đạo nói với đám đệ
tử. Biết mình, biết người, biết hoàn cảnh để ứng xử thích hợp, hình như cả khi
đã về hưu ông vẫn không ngừng tự hoàn thiện mình. Đó cũng là tri túc vậy.
Đêm
nay tết nguyên tiêu năm Nhâm Ngọ, tôi lại đến thăm ông đang trong cơn bạo bệnh.
Vị tướng nhân từ chỉ nhìn tôi, cố gắng lắm ông mới nói được mấy tiếng: “
cám...ơn...cô chú...”. Biết rằng ông khó lòng qua khỏi, tôi về trằn trọc không
sao ngủ được. Trở dậy, thức thâu đêm viết những giòng này.Viết xong, đọc lại
mới chột dạ: viết về ông mà tôi như muốn tự khoe mình. Nhưng rồi nghĩ lại, được
một người như ông quý mến thì cũng tự hào, cũng đáng khoe lắm lắm!
Rằm
tháng giêng Nhâm Ngọ 2002.