Fa- Xu- Ca
Từ hàng chục năm nay trong ngành
giáo dục Nghệ An đã truyền khẩu những bài thơ tinh nghịch của Thầy Kỳ, một giáo
viên dạy toán khá nổi tiếng trong những năm 1970. Những vần thơ tinh nghịch của
thầy là một trong những động lực để các thầy cô giáo vượt qua những khó khăn
gian khổ của nghề giáo trong thời kỳ chiến tranh và bao cấp. Faxuca xin chọn và
giới thiệu một số bài thơ của Thầy Kỳ với các bạn.
Thơ thầy Kỳ sử dụng thủ pháp chơi
chữ theo lối nói lái của người Nghệ. Các bạn người Nghệ chắc đọc là hiểu ngay.
Các bạn ở nơi khác thì chịu khó “luận” một tý nhé, biên tập không chú thích vì
mất hay.
Cám ơn thầy Thái Khắc Tân, trưởng
phòng Giáo dục thành phố Vinh đã cung cấp bản thảo cho Faxuca.
GẶT
GIÚP DÂN
Thu đã lâu rồi còn đại lũ.
Lệnh khẩn huyện về tình đoàn tụ
“Thầy trò Trù Đại, gặt giúp dân”
Có lệnh là đi không đợi nhủ.
10/1976.
AI
ĐÓ
Ai đó, ngồi ngay trước cổng trường,
Một dòng nước ấm chảy xuống mương.
Kiến tưởng mưa to ôm trứng chạy.
Dế vểnh râu nhìn, dạ vấn vương.
NHỚ VỢ
Từ ngày xa vợ đến
ni,
Ngồi buồn tớ hát đồ,
mi, xôn là.
Hát chán tớ lại ê, a.
Mẹ chắt Năm
mi hỡi,
Tau thật là nhớ mi.
THẦY
BẬT ĐÓN CÔ NỤ
Nụ đến đấy ư? Mệt không em,
Trù Đại trường ta đó Nụ xem.
Xa xa dãy núi con rồng
lộn
Đón Nụ về đây cảnh đẹp thêm.
10/1976.
(Cô Nụ là giáo viên sinh vật Người Hoàng Hóa, Thanh Hóa. thuyên chuyển về
Trường cấp 3 Đô Lương 1
MỪNG THẦY KHÁNH CƯỚI VỢ
Khéo đánh cho nên lấy được đồn
Tin về Khánh đã bị lầm chôn.
Ai ngờ lại có hôm nay nhỉ?
Pháo đạn bay mù rậy xóm thôn.
1/1977.
(Thầy Khánh quê Quang Sơn đang học dở đại
học thỡ nhập ngũ. Trong chiến trường, bị trương nặng, lạc đơn vị, dân đem về
nuôi. Đơn vị có giấy báo tử về địa phương Sau khi vết thương lành, Khánh tìm
đường về đơn vị, đơn vị cho nghỉ mất sức.
Nghĩ mình còn tuổi thanh niên, Khánh xin về lại trường Đại học tiếp tục
học. Sau khi ra trường, nhận công tác giảng dạy Toán ở phân hiệu Đô Lương 1.
Năm ấy Khánh cưới o Lan, người Đại Sơn)
CHÚC MỪNG CÔ QUÁN ĐẺ CON TRAI
Tuy
gầy nhưng cụ đoán không sai.
Năm nay cô Quán đẻ con trai.
Lời
đồn thiên hạ ôi đa dạng.
Gầy
mà chủ động vẫn có thai.
LỜI ĐỒN TẾ NHỊ
Dáng cao cao, áo cổ cồn là,
Quần
quai zét, li còn thẳng nếp
Lớp
trung trung khen rằng cụ đẹp.
Bọn
thanh niên đĩ cụ, đĩ tra.
Quý
phu nhân khiêm tốn lụa là,
Nghe
cụ đẹp, lòng ngổn ngang áy náy.
Ba
vạn sáu ngàn ngày là mấy.
Điệu
đi anh mạch đời còn đang chảy.
Hè 1977
(Thầy Nguyễn Tế N. Giáo
viên Văn trường Đô Lương 1, ăn bận rất
chải chuốt. Trong kỳ chỉnh huấn tôi đùa sẽ làm thơ về việc ăn bận hơi cầu kỳ,
không hợp lứa tuổi. Thầy N. thách và bài thơ ra đời.)
BÀI
THUỐC CHO CÔ NA
Cổ khắc với lại lá lồ khôn,
Tặc cốt mươi phân dúng lọ cồn.
Nu đã giã rồi vắt
lấy nước
Bấy nhiêu sắc uống thế là nôn
8/1978
(Cô Na người Nghi Lộc, phụ tá phòng thí
nghiệm trường Đô Lương 1, chưa chồng, thường hay đau bụng vào những kỳ kinh)
BỊ ONG ĐỐT
Trong bụi thốc ra đánh cái vù
Trên đầu bỗng nổi một đại u.
Đéo mẹ con ong chơi khoảnh thật
Mồm thì không đút, đút đằng khu.
MỘT NGÀY CỦA THẦY ĐỆ
Mười phút đầu giờ học đội ngũ
Trống vào lên lớp, giọng êm ru
Chiều chiều phụ đạo đàn em nhỏ
Hoàng hôn buông xuống, Đệ mới vù.
10/1979
(Thầy Đệ giáo viên trường cấp 3 Đô Lương
3, người Quang Sơn - một trong những người tích cực của trường. Dạo ấy chiến
tranh biờn giới phớa bắc, trước khi vào giờ học, các thầy trò ôn lại các động
tác quân sự)
CÔ QUẾ TRÁCH CHỒNG
Đựng mô nỏ đựng, đựng vô lu
Chết buồn vì nỗi bố thằng cu.
Từ chỗ thơm tho, giờ mốc xỉn.
Trách ai, đem Quế đựng vô lu.
12/1979
(Hai vợ chồng cô Quế mua
được thanh quế phòng khi con cái đau yếu, chồng cất giữ không cẩn thận, quế bị
mốc, cô Quế trách chồng)
TỪ
TRƯỜNG VỀ
Mỗi bận đi về đã một bù.
Lại còn cà, đậu với lu bu
Vừa về đến ngõ nàng ra đón
Âu yếm nhìn chồng, anh đã chu
2/1980
Đời sống giáo viên khổ
cực, thầy nào cũng lo sản xuất kiếm thêm ít rau ria, lương thực. Tết đến, về
nhà mấy quả bù, quả cà lo vặt đem về, để lại sợ trộm mất. Người phụ nữ nào mà
chả thông cảm với sự vất vả của chồng mình- vừa lo giảng dạy- vừa lo từng bó
rau, quả cà cho gia đình.
MỜI THẦY CÔ
Lạc chợ cồn vừa to vừa béo
Kẹo trắc lạc vừa dẻo lại vừa thơm.
Ai về giám thị trường em,
Xin mời thưởng thức đã thèm thì thôi.
CÂU
ĐỐI
Cụ Đại, cụ Tiêu, điệu tai cụ Giáp
Cụ Đại, cụ Giáp, đạp dái cụ Tiêu
CHỮA CHỨNG MẮC CỠ ( HAY E THẸN )
Cẩm xà lặc chọn vừa một khúc
To và dài vài chục phân tây
Chờ khi má đỏ hây
hây
Đem ngâm cồn lỏng
nhẹ tay lắc đều
Khoảng dăm phút nước
đổi màu
Lấy ra lau sạch dấu mau trong mình
Bất thình lình lên cơn mắc cỡ
Em vào phòng chốt cửa cài then
Bên mình sẵn có thuốc tiên
Lấy ra mà ngậm chẳng phiền hà chi
Toa này cụ đãi
em Qui
9/1981
CHỮA
CHỨNG KHÔNG NGỦ ĐƯỢC
Loại nu sắt chọn cho hai củ
Phải nhẹ tay kẻo mủ dính lông
Lò tôn hơi ấm đang nồng
Đặt nu vào đấy khoảng trong nửa giờ .
Khi nu đã nhờ nhờ dính dính
Sờ tay vào và nắn thấy mềm
Lấy ra động tác thật
êm
Cho vào túi vải mà chùi quanh mông
Cữ những ngày mồng trong tháng
Còn hàng ngày vào khoảng nữa đêm
Hương thơm một nén
Cau đặc một quả
Trù lá bốn liền
Cá mắm hai bên
Nu sắt đặt giữa
Vái dọc bốn vái
Nằm ngửa xuống sao cho thoải mái
Cửa mở to gió lọt vào tai
Thoảng nghe tiếng dế ngân dài
Tưởng như hồn lạc thiên thai bao giờ
Trong giấc mơ còn u-ơ nu sắt
YÊU
ĐỜI
Tóc ta bạc, bởi vì
ta xấu máu
Răng lung lay bởi miệng lắm loài sâu
Con như từ rốn đến phao câu
Tớ vẫn xuân xanh
mười tám
THẦY TẤT NGẠC HỎI MƯỢN LON CÔ QUI
Nghe
nói nơi Qui có cái lon
Da
lươn hồng tía, miệng vênh tròn
Có
quả cà dê không nơi muối
Cho mình mượn tạm độ ít hôm
Cô Qui trả lời :
Đúng
thế, nơi em có cái lon
Da
lươn hồng tía miệng vênh tròn
Nhưng
muối cà dê không cho mượn
Một lần chả được, nữa mấy hôm
3.1982
(Hoàn cảnh
kinh tế khó khăn, các thầy cô tự sản xuất, mua lấy lon, hũ, muối cà, dưa, để
các bữa ăn khỏi chỉ muối trắng)
BOM
RỀN ĐẠN RÚ
Bốn phương trời chuyển động
Bốn chân chõng rung rinh
Ai chưa chộ chưa kinh
Tui chộ rồi tui hại