Thứ Tư, ngày 12 tháng 9 năm 2012

“THUẾ BÙ THAM NHŨNG”


                                                                                          Công Nông
          - Té ra ỷ lệ thuế, phí trên GDP của Việt Nam mình cao hơn các nước trong ku vực từ 1.4 đến 4 lần bác Nông à?
          - Chú mày nói chuyện sưu cao thuế nặng thời thực dân phong kiến đấy à?
          - Không, em nói chuyện ở “thì hiện tại”.
          - Có chứng cứ gì không? Hay là lại tuyên truyền không công cho các thế lực thù địch đấy!
          - Dạ thưa, “nói có sách, mách có báo”, đây là Báo cáo của Ủy ban kinh tế Quốc Hội, mới công bố đầu tháng chín này.
          - Thế thì gay nhỉ. Dân mình nghèo, doanh nghiệp cũng chưa mạnh mà thuế phí như thế thì nặng nề quá. Đúng là ngẫm lại mới thấy bây giờ thuế, phí nặng nề thật. Nghe nói mỗi lít xăng phải gánh đến 6500 đồng tiền thuế. Mấy bác đi ô tô bốn bánh thì hơn hai bánh cũng là thuế. Anh em mình nghèo đi xe máy, thực chất cũng là cưỡi...thuế đi chơi. Đó là chưa kể phí, ngoài những thứ chính thức thống kê được, còn trăm thứ bà dằn không tên, lại còn vận động quyên góp theo chỉ tiêu nữa...
          - Các nhà kinh tế còn nói thực ra dân ta còn phải chịu một thứ thuế rất cao nữa.
          - Là thuế gì?
          - Dạ thưa, đó là thuế...lạm phát. Lạm phát hai con số thì tự nhiên tiền bạc của bác và em cũng giảm đi “hô con sái” tương ứng.
          - Thế mà còn nghe các bác, nhất là ngành giao thông đề xuất thêm mấy loại thuế phí nữa, ví như hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, hạn chế xe ô tô vào thành phố giờ cao điểm...Nghĩ mà thương cho các bác... nhà giàu thành phố.
          - Em thấy có khi dân mình có quyền tự hào vì đã yêu nước gấp ba bốn lần các nước trong khu vực đấy, bác ạ.
          - Tại sao?
          - Bác không thấy khẩu hiệu “đóng thuế là yêu nước” khắp nơi đấy à? Đầu năm nay bác Bộ trưởng Giao thông họ Đinh còn nói nộp phí cũng là yêu nước đó sao?
          - Kể ra yêu nước kiểu này cũng không sướng lắm.
          - Em hỏi bác câu này hơi...tế nhị. Tại sao nhà nước mình phải thu nhiều thuế, phí thế nhỉ?
          - Ô hay, nhà nước chi tiêu nhiều thì phải thu thuế, phí nhiều. Nên nhớ trên đời này chỉ có dân nuôi nhà nước thôi. Nước mình lại đang trong giai đoạn phải đầu tư ban đầu nhiều để phát triển, nên càng phải thắt lưng buộc bụng.
          - Thế mà em cứ tưởng tại mình tham nhũng, lãng phí nhiều nên phải tăng thu thuế, phí để...bù? Em lấy ví dụ, cùng một số tiền như nhau, nước ngoài họ làm được một cây số đường, mà mình làm được có một nửa, thì phải tăng thuế, phí lên gấp đôi để bù cho cái khoản bị tham nhũng, lãng phí ấy. Chỉ mấy cái “Vina” thôi đã mất mát, lãng phí hàng mấy tỷ đô. Mà, nước mình thì có biết bao nhiêu là “các chú cứ phá” như thế! Bây giờ mở báo ra thấy vụ tham nhũng nào chỉ có mấy chục, mấy trăm tỷ là ...nỏ muốn coi nữa. Bác thấy nếu giảm được thamm nhũng, lãng phí có phải dân mình đỡ còng lưng gánh thuế, phí không?
          - Chú mày nói cũng có lý. Nhưng, chả lẽ lại nói là dân mình phải đóng thêm một khoản thuế mới là ...
- “Thuế bù tham nhũng” ?

Thứ Ba, ngày 04 tháng 9 năm 2012

“Men say tình yêu” của trai gái xứ Nghệ thể hiện qua phương ngữ


                                                                                         TS Hà Nguyên Đối
 Có lẽ, cái khác biệt dễ nhìn thấy nhất trong tình yêu đôi lứa của con người xứ Nghệ so với những vùng miền khác là thứ men say tình yêu ấy được biểu hiện qua phương ngữ với những từ ngữ  “đặc Nghệ”
Khi nào kiềng sắt bén mun
Chàng hun má thiếp, thiếp hun má chàng
Diết da da diết quá chừng
Em cho anh chụt một cái, em đừng kêu đau
                                                                           (HPV, tr. 299)
Ở đây, người ta không dùng từ “hôn” mà dùng từ “chụt”, “hun” để chỉ nụ hôn- vốn là bức thông hành của tình yêu. Nghe “hun”, “chụt” khiến ta từ cảm nhận được âm thanh và tưởng tượng đến động tác để hiểu cái sâu đằm của nụ hôn người Nghệ. Đồng thời, cũng cho ta thấy một kiểu ứng xử rất rõ ràng, minh bạch, đắm say đến hồn nhiên của gái trai nơi đây.
Hoặc như trong bài vè “ Thương anh lắm anh ơi”, mật độ phương ngữ cũng xuất hiện dày đặc:
Nước uống nỏ muốn rót
Cơm ăn nỏ muốn nhơi
Cầm lấy đũa đũa rớt
Cầm lấy đọi đọi rơi
Thày hỏi: vì răng rứa con ơi?
Mẹ hỏi: vì răng rứa con ơi?
Con lặng lặng trả lời:
Vì sầu riêng bạn cộ
Ngơ ngẩn sầu bạn cộ
                     (KTVXN, t3, tr.432)
Ở đây, chỉ diễn đạt tình thương yêu mà kéo dài đến 20 câu (trong đó có 17 câu bằng và 3 câu trắc). Người đọc phải đọc một hơi, người hát cũng phải hát một hơi, không nghỉ, không kịp thở để tuôn ra cho vơi, cho cạn nỗi nhớ thương, niềm yêu đương đang dồn nén, ức chế trong tâm can. Đièu đặc biệt ở đây, ta thấy tác giả dân gian đã dùng rất nhiều phương ngữ xứ Nghệ. Phải chăng những phương ngữ được dùng đã góp phần đẩy nhanh tiết tấu của bài, “tuôn” nỗi nhớ nhung da diết đến địa chỉ cụ thể - “bạn cộ” (bạn cũ). Chúng tôi đồng tình với Ninh Viết Giao khi nhận xét bài vè trên: “17 câu đề vần bằng, âm mở thể hiện tình cảm triền miên lai láng, câu trắc “uống nước nỏ muốn rót” là tiếng nấc, nấc vì nghẹn ngào, nấc vì nỗi nhớ dâng lên trẹn cổ họng. Qua một đoạn ấy thôi, chúng ta cũng biết tình yêu của trai gái Nghệ Tĩnh như thế nào rồi” [71, tr22].


Đến với ca dao và vè xứ Nghệ về tình yêu đôi lứa, ta bắt gặp rất nhiều cách ngỏ tình khác nhau. Họ có thể nhờ miếng trầu, qua miếng trầu. Bởi thế mà dân gian mới có câu: “miếng trầu nên dâu nhà người”. Bằng miếng trầu, họ đã nói với nhau niềm khao khát lứa đôi:
Trầu xanh đĩa ngọc
Quả cau em róc tứ bề
Trầu têm cánh phượng em đề đôi câu.
Em đề chữ ân chữ ái
Em đề chữ thọ chữ ninh
Em đề chữ tình chữ tính
                                                                  (KTVXN, t3.tr.88)
Đó là cách ngỏ tình kín đáo mà ta thường thấy ở nông thôn trước đây.
Ngoài ra, họ còn có thể ngỏ tình bằng cách không nói ngay, nói thẳng vào tình yêu, mà nói từ xa đến gần, nói vòng vo rồi mới đi vào ý chính. Có thể nói đây là cách tỏ tình rất tế nhị. Chẳng hạn như trong bài vè “xuân bất tái lai”, chàng trai mở đầu bằng những câu khen người con gái là “yểu điệu thanh tân”, “thục nữ chuyên cần”… sau đó mới nói đến gia sự của cô ta, gia đình, cũng như tâm tình của anh ta đối với cô gái, rồi cuối cùng mới ngỏ tình, mà cũng rất bóng gió, xa xôi:
Chim tử quy thánh thót
Dạ bát ngát lòng sầu
Nghĩa nặng với tình sâu
Núi non nào kể xiết
                                                                  (KTVXN,T3, tr.237)
Cách ngỏ tình đó như bướm lượn vòng hoa, ban đầu thường vờn một cách ý nhị, bóng gió, xa rồi gần, gần rồi xa, thật là nên thơ và cũng không kém phần lãng mạn.
Hoặc, cũng có khi họ tỏ tình trực tiếp. Như trong bài vè “em lấy anh thôi”, người con trai không vòng vo hoa lá, không mượn bóng trăng chỉ nẻo, không mượn con bướm đưa đường mà nói thật, nói thẳng nỗi lòng, ý nghĩ của mình, nói có phần sống sượng, thô lỗ nhưng rất thành thật:
Thôi thôi anh lấy em thôi
Trang sức anh sắm đủ rồi còn chi
ọ HHHHHhhh                                                                  (KTVXN, t3, tr.118)
Không những tỏ tìnhmà anh còn hứa hẹn một cuộc sống rất tốt đẹp với cô gái- một cuộc sống giản dị của những người lao động.
Dù là bày tỏ bằng cách nào thì ta cũng thấy được tình yêu sâu sắc, thầm kín nhưng cũng không kém phần mãnh liệt của các chàng trai, cô gái xứ Nghệ.
Nói đến tình yêu, ta thường nghĩ ngay đến những lời thề non hẹn biển. Song, khác với lời nguyền nhờ vả trăng, sao, trời, đất của trai gái xứ Bắc, các chàng trai cô gái xứ Nghệ thường lấy nhiều hơn cái chết, sự hi sinh bản thân để bảo vệ tình yêu. Chẳng hạn như:
Anh mà không lấy được nàng
Thì anh tự vận giữa gia đàng nhà em
                                                                          (CDNT, tr.130)
Chúng tôi đã thống kê được ở chương 2, tập 1 trong KTVXN viết về tình yêu đôi lứa, có đến 15 lần trai gái vùng đất này đã mượn cái chết để bảo vệ tình yêu.

Hai tay cầm tám gươm vàng
Chết thì mặc chết, buông chàng không buông
                                                              (CDNT, tr.330)
Quả thật, cũng khó tìm kiếm một lời hứa, lời nguyện nào lại mãnh liệt đến ghê gớm như gái trai xứ Nghệ khi yêu:
Cha mẹ dù có chặt chân, chặt tay
Khoét mặt, khoét mày cũng trốn theo anh
                                                                       (CDNT, tr150)

Những từ ngữ: “chặt chân”, “chặt tay”, “khoét mặt”, “khoét mày” đã nói lên được bản chất tình yêu trong con người Nghệ Tĩnh. Họ có thể vì yêu mà sẵn sàng làm mọi thứ, thậm chí dám chấp nhận cả cái chết chứ không thể sống thiếu người mình yêu.
Ngoài những vấn đề nói trên thì trong các văn bản ca dao và vè viết về tình yêu đôi lứa, chúng tôi cũng đã thống kê được khá nhiều từ ngữ có tần số xuất hiện cao. Chẳng hạn, có tới 64 lần lời ca dao (về tình yêu nam nữ) mở đầu bằng hai từ “đôi ta” (“đôi ta như lửa mới nhen”, “đôi ta như thể con tằm”, “đôi ta như chỉ với khuy”, “đôi ta như con một nhà”…). Từ “đôi ta” xuất hiện nhiều như muốn khẳng định thêm tình cảm khăng khít, gắn bó bền chặt không tách rời của các chàng trai cô gái xứ Nghệ khi yêu.
Trong ca dao Nghệ Tĩnh ta cũng bắt gặp rất nhiều chữ “thương”. “Thương em”, “thương chàng”, “thương mình”, “thương ai”, ‘thương nhau”…hầu như trang nào cũng có. Cụ thể, chúng tôi đã thống kê có tới 75 bài xuất hiện chữ “thương” (thương em rọt (ruột) cắt làm ba, thương ta thì nói với ta, thương mình mình biết cho mô…) cũng muốn nói đến tình cảm dạt dào của người xứ Nghệ noi chung và của trai gái vùng này nói riêng.
Nói đến tình yêu là nói đến sự đắm say. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã từng: “say cho lơi lả ánh đèn, cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt”. Say đến: “sắc ngả màu trôi”. Còn cái “cơn say người” của cô gái trong vè Nghệ Tĩnh thật cụ thể, gần gũi với sinh hoạt hàng ngày nhưng cũng lại đắm say không kém gì các thi sĩ:
Đêm dài than thở
Than thở một đôi lời
Ôi cái cơn say người
Giá như say trầu say thuốc
Say trầu, say thuốc
Thì giã rau răm
Em say anh cả năm
Biết lấy gì mà giã!
Say rượu lại khá
Say người quên ăn
Mặt mũi băn khoăn
Em lấy ai chưa lấy.
                                                             (KTVXN, t5, tr.357)
Tuy nhiên, có điều lạ là cái “cơn say người” của các chàng trai, cô gái xứ Nghệ rất trong sáng, lành mạnh, không hề vẩn một chút tình dục. Cái “điên rồ xác thịt” không hề có trong ca dao và vè Nghệ Tĩnh khi nói về tình yêu

Chú thích: HPV:hát phượng vải;
 KTVXN: kho tàng vè xứ Nghệ;
 CDNT:ca dao Nghệ Tĩnh
Tài liêu tham khảo:
         - GS TS Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
         - PGS Ninh Viết Giao (chủ biên) kho tàng vè xứ Nghệ; hát phượng vải; ca dao Nghệ Tĩnh
       - Nguyễn Phương Châm: sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc (văn hóa dân gian số 3- 1997)


Chủ Nhật, ngày 02 tháng 9 năm 2012

Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?


Giáp Văn Dương

Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.
Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.
Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?
Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.
 Trí thức độc lập
Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.
Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.
Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”.
Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền. Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.
Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.
Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.
 “Trí thức cận thần”
Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua.
Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: “Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”.
Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.
Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.
Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng. Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.
 Bài học cho hậu thế
Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.
Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.
Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.
Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân. Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Nguồn: Blog Quê Choa