Thứ Năm, ngày 27 tháng 12 năm 2012

TRÒ CHUYỆN VỚI CÁI GHẾ


                                                                                                                                                          Fa - Xu - Ca
-         Ghế này, có khỏe không?
-         Anh là ai mà hỏi như là ngang hàng với tôi không bằng?
-         Ơ hay, anh chỉ là cái ghế thôi chứ có gì mà cao ngạo thế?
-         Thế anh không biết người ta chạy chọt, luồn cúi, hối lộ, tranh giành, cắn xé nhau, thậm chí đảo chính, lật đổ, nội chiến cũng chỉ vì tôi à?
-         Nói thật nhé, anh cũng chỉ là thứ mà người ta gửi tạm cái bàn tọa thôi, chứ cao sang gì! Bức tranh làm nên giá trị cho cái khung. Nhân cách người ngồi trên ghế mới mang lại danh giá cho cái ghế, nghe chưa!
-         Chú em đúng là đồ...lý thuyết suông! Chính anh mày đây mới là người mang lại danh giá cho kẻ ngồi!
-         Làm gì có chuyện ngược đời thế?
-         Anh hỏi chú mày nhé? Chú mày học hành tử tế, bằng cấp đàng hoàng, thông thạo ngoại ngữ, đạo đức sáng ngời, nói năng lưu loát, viết lách giỏi, tổ chức quản lý cừ...Túm lại là rất ổn. Đúng không?
-         Ờ...thì đại loại là như thế. Thì sao?
-         Nhưng anh hỏi chú mày, chú mày nói có ai nghe không?
-         Ờ...thì...là...mà...
-         Đấy. Chú mày thấy chưa? Nhưng nếu chú mày ngồi lên chỗ anh đây, tất nói sẽ có người nghe, đe sẽ ối kẻ sợ. Vậy thì cái gì làm nên giá trị, chú mày hay anh? Con người hay cái ghế?
-         Anh nói thế nghĩa là kể cả dốt nát, tham lam, dối trá, nịnh bợ...hễ cứ ngồi được lên ghế là danh giá?
-         Chứ sao! Cũng con người ấy nhưng hễ cứ tót lên ghế cao là bỗng nhiên “nghe anh nói bọn em sáng ra” ngay. Không danh giá thì là gì?
-         Nhưng đó là cái danh hão, báu gì!
-         Đúng, danh thì hão, nhưng quyền lực thì thật. Mà, có quyền thì làm được nhiều việc lắm.
-         Đương nhiên rồi, thời nào thì cũng phải có quyền mới thực thi được chuyện này chuyện nọ. Nhưng tôi hỏi anh Ghế, các ông chủ của anh, những người đã phải chi phí rất nhiều để có anh, họ thường quay lại dùng anh vào việc gì là chủ yếu?
-          Làm tiền. “Măn ny” ấy mà, để trước mắt là bù đắp chi phí, gọi là “thu hồi vốn”.
-         Đồng ý với anh “trước mắt” là “thu hồi vốn”. Thế còn “sau mắt” là gi?
-         Là tiền!
-         Để làm gì nữa?
-         Có thế mà cũng hỏi. Để “đóng” một cái ghế cao hơn!
-         Tôi kinh sợ anh rồi đấy. Đúng là chỉ vì anh, mà người ta sẵn sàng chạy chọt, nịnh bợ, hối lộ, dối trá, tranh giành, cắn xé nhau...
-         Chú mày nói đúng thực trạng của một “bộ phận không nhỏ” rồi đấy. Nhưng nếu không thế, theo chú mày thì sao?
-         Còn sao nữa. Phải công khai minh bạch, thi thố khách quan, bầu cử đàng hoàng, ai có thực tâm, thực tài thì phải được trọng dụng.
-         Có nghĩa là ghế phải đi tìm người, chứ người tài không đi tìm ghế?
-         Đúng như thế! Người tài ai người ta quỵ lụy cái... vật bốn chân!
-         Chú mày nói rất đúng, quá đúng, cha của đúng!
-         Chứ sao!
-         Chỉ có một điều nho nhỏ thôi, nói một câu cho vuông để chú mày buồn dần đi là vừa...
-         Là điều gì vậy?
-         Đó là cái đúng của những kẻ...không có ghế!

Thứ Tư, ngày 05 tháng 12 năm 2012

XUI DÂN ĐI KIỆN


Công Nông
- Bác Nông nói có ông quan, í quên vị lãnh đạo nào lại xui dân đi kiện không?
- Vớ vẩn! Quan mà lại xui dân đi kiện, có mà loạn! Chú không thấy các bác lãnh đạo lúc nào cũng nói ổn định, ổn định đó à?
- Thế mà có vị lãnh đạo xui dân, hay nói đúng hơn là khuyên doanh nghiệp kiện chính quyền ra tòa đấy.
- Ông nào mà ngược đời thế?
- Ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.
- Lại ông Bá Thanh à? Ông này mà làm thì có khi ngược đời  cũng hay đấy nhé. Chuyện thế nào?
- Sự thể là Cty Khải Hoàn Nguyên đã đóng 10,2 tỉ đồng cho ngân sách của thành phố để được giao 5.638m2 đất làm nhà xưởng. Thế nhưng tiền thì đóng đã 2 năm nay, mà đất thì đến nay vẫn chẳng thấy đâu. Chính xác hơn là thấy thì vẫn thấy, nhưng giao thì vẫn chẳng được giao.
- Sao mà kỳ cục thế? Tiền trao thì cháo phải múc chứ? Hay là chưa trao cái tiền... “nhạy cảm” í?
- Thế mới có chuyện. Một ngàn lẻ một lý do đã được các ban, ngành của thành phố đưa ra để giải thích tại sao “tiền đã trao” mà “cháo lại chưa múc”.
- Thế ông Bá Thanh nói sao?
- Tại buổi làm việc với các ban, ngành của thành phố về vấn đề này, ông Nguyễn Bá Thanh đã đề nghị hoặc là UBND TP giao đất (có tính đến thiệt hại của Cty) ngay trong tháng 12 này, hoặc là Cty sẽ đứng ra khởi kiện UBND trước toà án. Và ông sẽ hỗ trợ cho Cty trong việc kiện tụng này.
- Hay! Phải như thế thì bộ máy quan liêu mới chịu động đậy.
- Nhưng mà em vẫn thấy thế nào ấy. Ông Bá Thanh là bí thư Thành ủy, Đảng lãnh đạo chính quyền, sao phải nhờ đến Tòa án phân xử?
- Chú mày đừng câu nệ chuyện đó. Đảng lãnh đạo nhưng không được làm thay. Việc gì đáng ra tòa thì để tòa xử lý là đúng, Đảng can thiệp làm gì. Kiện là quyền của người dân. Người ta kiện đúng nơi, đúng chỗ, đúng quy định của pháp luật, tòa xét xử quang minh chính đại, thì không thể nói là mất ổn định được.  
- Bác nói đơn giản nhỉ?
- Cuộc đời này vốn đơn giản mà chú. Chỉ tại “một bộ phận không nhỏ” nó làm cho phức tạp lên thôi.
- Bác nói thế thì em về cũng kiện ra tòa thôi, miếng đất nhà em tranh chấp mấy năm rồi. Chính quyền cứ khất lần, khất lừa mãi có chịu xử lý đâu.
- Kiện cũng được. Nhưng mà chú mày đã có ấy chưa mà dám đi kiện?
- Bác nói tiền à?
- Đây không nói chuyện ấy
- Thế thì là gì?
- Tớ hỏi chú đã có... “ông Bá Thanh” nào chưa?
(Bài đăng báo Lao động Nghệ An)

Chuyện tào lao: MIẾNG BÁNH KHÔ CỦA Ả CHẮT TƯ


Fa – Xu - Ca
Quê mình gọi chị là ả, chứ không có ý phê phán chi. Ả Chắt Tư là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, ăn ở khéo, làng trên xóm dưới ai cũng khen. Ả có năm đứa con, bốn trai, một gái, chúng nó đều sáng sủa, ngoan ngoãn.
Một hôm ả đi chợ về, tiền ít nên chỉ mua mỗi một chiếc bánh khô (bánh đa) về làm quà cho tụi nhỏ. Chiếc bánh khô ả cẩn thận để trong buồng. Đầu tiên ả gọi thằng Hùng vào. “Con là anh cả ả đầu, việc chi cũng đến tay. Bựa ni cha có việc, con chịu khó chống thuyền đi kiếm con cá, con tôm chi về mà nấu ăn bữa chiều. Đây nha, có miếng bánh khô đây mẹ cho con, đừng để các em chúng nó biết”. Thằng Hùng dấu miếng bánh khô trong bụng, xuống bếp xách lưới ra bến sông, vừa đi vừa huýt sáo. Một lúc sau, ả lại: “Nam ơi, vô đây mẹ nhờ”. Cu Nam chạy vào. “Này, có miếng bánh khô mẹ dành cho con đây, dấu con Sâm đi nha, mà cũng đừng cho thằng Tráng, thằng Kỳ biết. Mẹ biết con chiều ni cuốc đất vất vả, chớ các em nỏ có mô”. Bỏ vội miếng bánh khô vô túi, cu Nam xuống chuồng trâu tìm cuốc. Khi cu Hùng đang giăng lưới trên sông, cu Nam đang hì hục cuốc đất trên đồng thì lần lượt cu Tráng, cu Kỳ cũng vào buồng nhận thưởng để hí hửng đứa dắt trâu đi, thằng đổ thóc vào cối, xay. Cuối cùng là con Sâm. “Mẹ chỉ mỗi mình con là con gái, lại út át nữa. Có miếng bánh khô đây nha, mẹ cho riêng con đó. Mấy thằng anh mi vất vả rứa chơ nỏ có mô. Ra ngoài sông vơ cho mẹ nắm rều, lợn chiều ni đã có chi ăn mô”.
Cứ thế, hôm thì miếng bánh khô, bữa khác thì mấy củ khoai từ, dăm ba khúc sắn, năm đứa con của ả ai cũng tưởng chỉ riêng mình được nhận đặc ân.
Ả Chắt Tư đã mất từ lâu. Năm đứa con của ả cũng đã trưởng thành, mỗi khi nhắc lại chuyện cũ, chúng chỉ cười và càng thương người mẹ nghèo khéo thu vén.
Nhưng mà ả Chắt Tư ơi, mẹo chia bánh khô của ả bây giờ người ta áp dụng nhiều lắm, lắm chiêu trò siêu hơn ả ngày xưa nhiều.

“TRƯỜNG KỲ KHÁNH CHIẾN”


Phạm Xuân Cần
Cuối tuần vừa rồi có một người đàn ông lạ gọi điện cho tôi. Ông báo tin ông đã có đất và cám ơn tôi vì chín mười năm trước đã ủng hộ ông trong việc đòi lại đất. Khi ông xưng tên tôi nhớ ngay ra ông và câu chuyện của ông, dù chưa một lần gặp mặt.
Đó là ông Nguyễn Đức Tam, người khá “nổi tiếng” ở Thành phố Vinh vì hai mươi năm đi kiện, để đòi lại mảnh đất của chính mình. Câu chuyện của ông vốn thật đơn giản: ông được xã Hưng Lộc bán cho một mảnh đất từ năm 1989, sau đó được UBND thành phố cấp phép xây nhà. Đến năm 1992 khi xuống làm nhà thì ôi thôi, mảnh đất đã được xã xén một phần cho người khác. Kiện tám chín năm không được, cực chẳng đã ông phải nhờ “cò” chạy tiền mới được cấp lại đất. Nhưng, người ta lại cấp cho ông một mảnh đất đã có...bìa đỏ của một người khác. Thế là, lại...kiện. Lại ròng rã chín mười năm sau, qua mấy đời chủ tịch xã, chủ tịch thành phố, chủ tịch tỉnh hôm nay ông mới được cấp đất với bìa đỏ “chính chủ” hẳn hoi! Nghe ông báo tin vui, tôi cười, đùa ông: “Thế là thời gian anh đi kiện dài hơn cả hai cuộc trường kỳ kháng chiến còn gì”. Qua điện thoại tôi nghe tiếng cười của ông sao mà đượm vị chua cay...
Chua cay là đúng thôi, hai mươi năm ấy ông đã dấn thân vào một cuộc đấu không cân sức, giữa một bên là ông, một công nhân mất việc, với một bên là bộ máy công quyền mà mức độ quan liêu gần như đã hoàn thiện đến từng xăng ti mét! Chắc không phải người ta kém đến mức không biết ông Tam đúng, chính quyền sai. Nhưng cái chính là không ai muốn chịu trách nhiệm về cái sai của chính quyền. Vậy là từ xã đến thành phố người ta tìm cách chứng minh ông Tam sai. Và, trong cuộc tìm kiếm bất tận đó người ta đã “sáng chế” ra những lý do để buộc lỗi cho ông Tam mà đến những nhà văn giàu trí tưởng tượng và hư cấu nhất cũng phải chào thua. Bên cạnh sự bất lực của ông Tam trước bộ máy quan liêu, còn có một sự bất lực khác không kém phần chua chát. Đó là sự bất lực của chính những cán bộ, kể cả lãnh đạo biết đâu là lẽ phải, dám đứng về phía những người dân bé mọn để bênh vực họ. Nhưng với bộ máy ấy, họ cũng đành bất lực, nếu không nói là phải trả giá!
May sao (Một lần nữa công lý lại phải cậy nhờ đến cơ may!), bên ông Tam còn có báo chí. Ngoài sự tiên phong của báo Lao động Nghệ An còn có sự vào cuộc của hàng chục tờ báo khác. Câu chuyện của ông Tam thậm chí còn được cả Đài Truyền hình Việt Nam đưa vào chương trình Tiêu điểm của VTV1 cách đây bảy tám năm. Kêu mãi cũng thấu trời, cuối cùng công lý cũng đã được thực thi, ông Tam đã đòi lại được những gì mà lẽ ra ông đã có từ hơn hai mươi năm trước.
Biết bao nhiêu công sức, tiền bạc, tâm, trí và cả một thời tuổi trẻ đã bỏ ra cho cuộc đấu vì công lý. Người xưa nói “được vạ má sưng” kể cũng không ngoa.
Thế nhưng, dù sao ông Nguyễn Đức Tam vẫn đang là người may mắn. Vì, đã và đang có hàng vạn, hàng chục vạn gia đình như ông Tam vẫn âm thầm bền bỉ hàng năm, hàng chục năm trời đội đơn đi kiện. Nhiều người đang sẵn sàng chờ “má sưng” miễn là được kiện, được hưởng cái quyền lợi hiển nhiên là của họ. Thế mà chưa. Thế mà không. Bao nhiêu người đã chết mà vẫn chưa một lần “được vạ”. Tất cả dường như bất lực trước một vách đá lừng lững quan liêu và vô cảm.
May mắn là ông Tam đã đòi lại được đất. Nhưng, những “công bộc” làm sai, đẩy người dân vào bước đường cơ cực thì vẫn chưa được điểm danh điểm diện, vẫn khuất lấp đâu đó trong cái “bộ phận không nhỏ” trứ danh! Đó là một sự cam kết chắc chắn rằng: đội quân khiếu kiện vẫn sẽ không ngừng “tăng trưởng”.
Đất nước hòa bình đã gần bốn mươi năm, cớ chi những người dân bé mọn vẫn cứ phải ngày đêm “trường kỳ kháng chiến”?
(Bài đăng báo Lao động Nghệ An)

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 12 năm 2012

Chuyện tào lao: GIẤY KẾT HÔN


Fa – Xu - Ca
Hồi năm một nghìn chín trăm đã lâu, cu Bất tốt nghiệp Đại học Sư phạm, được tuyển vào Công an, về dạy văn hóa ở Trường Sơ cấp Công an Nghệ Tĩnh. Trường này khi đó đóng ở thị xã Hà Tĩnh. Hắn kể cuối năm học nhà trường tổ chức liên hoan. Hắn cùng với một học viên được cử đi Kỳ Anh mua bò. Mua bò xong hai thầy trò diện đồ cảnh sát giao thôn vàng chóe, dắt bò ra đường đón xe tải để chở bò về thị xã. Khốn nỗi con bò nhà quê không quen và không chịu đi xe ô tô. Mấy lần cứ đưa lên là nó lại nhảy xuống. Cực chẳng đã, hai thầy trò đành dắt bò, dọc theo quốc lộ Một về trường. Trời nắng chang chang, bò vàng, người vàng, cứ thế tám chân mải mốt cuốc bộ năm mươi cây số từ Kỳ Anh về thị xã.
Đã thế, hồi ấy lại đang ngăn sông cấm chợ, đâu có dễ gì đưa được bò từ địa phương này sang địa phương khác. Dù diện cảnh phục nhưng thầy trò nhà Bất cũng vất vả lắm mới vượt qua được các trạm gác dày đặc dọc đường khi đó. Hắn kể trong các trạm gác thì trạm gác của dân quân ở Cẩm Xuyên là nghiêm khắc nhất. Bất đã xuất trình hết thẻ đỏ Công an đến giấy đi đường, giấy giới thiệu của nhà trường, nhưng mấy tay dân quân đeo băng đỏ vẫn đòi kỳ được những giấy tờ khác chứng minh con bò cái này là bò của Bất. Theo “nhà sử học” của phòng tôi, anh Ngô Trí Sinh thì trong giờ phút sinh tử đó, cu Bất đã rút ra một tờ giấy có in hoa văn rất đẹp, đặt lên bàn trạm trưởng, dõng dạc nói: “Tôi có Giâý đăng ký kết hôn đây!”. Trạm trưởng soi xét rất kỹ, cuối cùng phán: “Chính chủ! Cho đi!”.